Chương 1 sẽ giới thiệu về công ty TNHH Mirae Asset ( Việt Nam ), giới thiệu tổng quan về công ty, lịch sử hình thành, ngành nghề kinh doanh và biết được chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong doanh nghiệp, qua đó ta thấy được doanh nghiệp được tổ chức quản lý theo chế độ một lãnh đạo. Giám đốc là người có trình độ và là người điều hành, đưa ra quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh 11 nghiệp. Với mục tiêu đem đến những sản phẩm tốt nhất đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp sẽ luôn nổ lực phát triển để đem đến cho khách hàng những sự lựa chọn tốt nhất.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2. Khái niệm công ty chứng khoán - Công ty chứng khoán là một trong những tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán. Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép cho công ty chứng khoán hoạt động trên lĩnh vực chứng khoán có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và thực hiện chế độ hạch toán độc lập. Như vậy 12 công ty chứng khoán thực chất là một doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán vớí các lĩnh vực hoạt động chính là tự doanh, môi giới, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, và tư vấn.
Trên thực tế, một công ty chứng khoán không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ trên, tùy theo loại hình nghiệp vụ mà công ty chứng khoán được cấp phép có đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định của loại hình nghiệp vụ đó không. - Sự phát triển của công ty chứng khoán luôn gắn liền với sự phát triển của thị trường chứng khoán.Nhiều nước trên thế giới đã xem công ty chứng khoán là hạt nhân cơ bản của ngành công ghiệp chứng khoán, nó góp phần thúc đẩy nền tài chính quốc gia phát triển. Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán 2. Chức năng của công ty chứng khoán - Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Các chức năng cơ bản của công ty chứng khoán bao gồm: - Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi và ngưởi sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành) - Cung cấp cơ chế giá cho cả giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá và khớp lệnh) - Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt và ngược lại) - Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường thông qua hoạt động tự doanh hoặc các nhà tạo lập thị trường 2. Vai trò của công ty chứng khoán Đối với tổ chức phát hành - Mục tiêu khi tham gia thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán 13 - Theo nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán thì các nhà đầu tư và các tổ chức phát hành không được trao đổi trực tiếp mà phải thông trung gian môi giới là các công ty chứng khoán - Vì vậy các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn cho nhà phát hành, là cầu nối trung gian trao đổi chứng khoán giữa các nhà phát hành và nhà đầu tư Đối với nhà đầu tư - Thông qua các hoạt động bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, môi giới và quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch cho các nhà đầu tư, vì vậy hiệu quả đầu tư sẽ được nâng cao Đối với thị trường chứng khoán - Góp phần xác lập giá cả điều tiết thị trường - Góp phần làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính - Tạo ra các sản phẩm mới 2. Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán Hiện nay, có ba loại hình tài chính cơ bản của công ty chứng khoán, đó là: công ty hợp doanh,công ty TNHH, công ty cổ phần: Công ty hợp doanh - Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên - Thành viên của công ty chứng khoán hợp doanh bao gồm: thành viên góp vốn và thành viên hợp doanh. Các thành viên hợp doanh chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Các thành viên góp vốn không tham gia vào điều hành công ty họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ của công ty. - Công ty hợp doanh thông thường không được phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào. Công ty cổ phần - Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu các công ty là các cổ đông. 14 - Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành.
Công ty TNHH - Thành viên của công ty trách nhiệm phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. - Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu. Do có những ưu điểm của loại hình công ty cổ phần và công ty TNHH so với công ty hợp doanh, vì vậy hiện nay chủ yếu các công ty chứng khóan được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH và công ty cổ phần.Các nghiệp vụ chính của công ty chứng khoán. Nghiệp vụ môi giới - Là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
Công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC. Vì các quyết định đầu tư do chính khách hàng đưa ra nên họ sẽ phải tự chịu trách nhiệm về kết quả. - Hiện nay, tất cả các công ty chứng khoán ở nước ta đều đang thực hiện nghiệp vụ này. Nhân viên phòng môi giới của các công ty chứng khoán sẽ cung cấp thông tin về các công ty niêm yết, các thông tin thị trường cho khách hàng bên cạnh đó họ sẽ đại diện cho khách hàng trong việc thực hiện các giao dịch.
- Tuy nhiên đó mới chỉ là "môi giới giao dịch" khi thị trường phát triển thì hoạt động môi giới phải đóng vai trò là cầu nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán và nhà đầu tư mua chứng khoán, thông qua hoạt động môi giới nhà môi giới chứng khoán sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo. Nghiệp vụ tự doanh 15 - Là quá trình tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình. Đây được coi là một khoản đầu tư của công ty bởi vì hoạt động này được thực hiện nhằm mục đích thu lợi nhuận cho chính công ty thông qua hành vi mua bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính công ty.
- Hoạt động này được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Trên thị trường OTC hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá. - Đối với các công ty chứng khoán ở nước ta hiện nay thì chỉ có một số công ty thực hiện hoạt động này bởi vì theo quy định của pháp luật thì muốn thực hiện nghiệp vụ này thì công ty chứng khoán cần đáp ứng được một số yêu cầu mà đầu tiên là phải có vốn điều lệ 12 tỷ.
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành - Là việc thực hiện các đợt chào bán và phân phối chứng khoán cho các doanh nghiệp cổ phần hoá ra công chúng và thực hiện bảo lãnh. Có thể nói nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là một trong những nghiệp vụ phổ biến ở các công ty chứng khoán, nó giúp cho tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. - Tuy nhiên ở nước ta hiện nay thì mới chỉ có một số công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ này, đó là những công ty có ngân hàng mẹ hỗ trợ rất nhiều về năng lực, vốn, các quan hệ sẵn có. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư - Là việc thực hiện quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn nguồn vốn cho khách hàng.
Việc lập và quản lý danh mục 16 đầu tư đòi hỏi phải có đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn có kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư tài chính. Chính vì vậy để có thể hoạt động tốt tạo lòng tin cho khách hàng đồng thời thu được nguồn lợi nhuận trong tương lai cho công ty thì cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ này. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh chứng khoán 2. Nhân tố khách quan Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế gắn liền với hoạt động của một công ty.Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một công ty nào cũng luôn quan tâm đến hiệu quả kinh doanh vì nó quyết định sự sống còn của công ty.Hoạt động kinh doanh của công ty lại chịu chi phối bởi rất nhiều các yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài công ty và chính vì thế hiệu quả kinh doanh của công ty cũng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố này.Là một mắt xích quan trọng của thị trường, những biến đổi của thị trường đều tác động đến hiệu quả kinh doanh của công ty.Nó có thể tạo cho công ty những nguy cơ hoặc cơ hội kinh doanh.