CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP.1 Khái quát chung về doanh nghiệp và thành lập doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp Dựa vào quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Có thể thấy rằng việc pháp luật công nhận hay không cộng nhận tư cách chủ thể pháp luật cho tổ chức, cá nhân có ý nghĩa vô cùng to lớn, đó là cơ sở để tổ chức, cá nhân tiến hành mọi hoạt động nhân danh mình, đồng thời được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Tư cách này cho phép doanh nghiệp có quyền tự chủ, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động của mình. Trách nhiệm pháp lý cơ bản của doanh nghiệp về hoạt động kinh doanh thể hiện ở chỗ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, thậm chí vượt ra khỏi phạm vi những tài sản đó về những cam kết tài chính, nợ nần trong kinh doanh.
Sự phát triển của DN hiện nay có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận không thể thiếu trong việc phát triển các ngành, nghề kinh tế của nước ta. Trong những năm qua, Hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào tăng trưởng kinh tế. Điều này quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân cũng như cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương khác nhau. Bên cạnh đó, sự phát triển trong lĩnh vực doanh nghiệp, công nghiệp tăng nhanh là nhân tổ đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.2 Khái niệm về thành lập doanh nghiệp 3 SV: Phạm Thị Tâm MSV: 18117423 Luận văn tốt nghiệp Khoa luật kinh tế Thành lập doanh nghiệp là sự hình thành một doanh nghiệp mới trong nền kinh tế.
Hoạt động thành lập doanh nghiệp do nhà đầu tư tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật về hình thức pháp lý của doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, cách thức góp vốn, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ cùa doanh nghiệp, người đầu tư thành lập doanh nghiệp. Ở góc độ kinh tế, thành lập doanh nghiệp do nhà đầu tư tiến hành với các hoạt động đầu tư vốn, chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết cho một tổ chức kinh tế ra đời và vận hành, gồm: văn phòng, trụ sở, kho xưởng, máy móc thiết bị kĩ thuật, phương tiện vận chuyên. phù hợp mục đích sản xuất hàng hoá hay kinh doanh dịch vụ. Thông thường, người sáng lập doanh nghiệp cũng sẽ có bước chuẩn bị nhất định về hệ thống khách hàng, kế hoạch nhân sự để rút ngắn thời gian chính thức gia nhập thị trường và tìm kiếm cơ hội kinh doanh.
Về pháp lý, thành lập doanh nghiệp là một thủ tục hành chính do các thành viên sáng lập của doanh nghiệp hoặc đại diện của họ tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh, nhằm “khai sinh” hợp pháp cho doanh nghiệp, ở Việt Nam, việc thành lập doanh nghiệp để kinh doanh mà không hoặc chưa đăng ký doanh nghiệp bị coi là hành vi vi phạm pháp luật.3Khái niệm về điều kiện thành lập doanh nghiệp Trước khi đến với định nghĩa về điều kiện thành lập doanh nghiệp cần tiếp cận khái niệm về “điều kiện” để có thể có cái nhìn bao quát hơn về điều kiện đang được nói tới. Theo Từ điểnTiếng Việt xuất bản năm 2010 do Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa ấn hành điều kiện là: “cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra”. Như vậy có thể hiểu điều kiện là yếu tố tiên quyết, mang tính quyết định đối với sự xuất hiện của sự vật, sự việc nhất định. Từ khái niệm diều kiện như dã dẫn ra ở trên, có thể hiểu: điều kiện thành lập doanh nghiệp là những tiêu chí, yêu cầu được pháp luật quy định bắt buộc chủ thể thành lập 4 SV: Phạm Thị Tâm MSV: 18117423 Luận văn tốt nghiệp Khoa luật kinh tế doanh nghiệp phải đáp ứng một cách đầy đủ, chính xác nhằm tạo nên nền tảng ban đầu cho doanh nghiệp.
Theo định nghĩa trên, điều kiện thành lập doanh nghiệp là những yêucầu cơ bản nhất được quy định trong các văn bản pháp luật, đặc biệt trong các đạo luật. Cũng chính vì được quy định bằng pháp luật nên những điều kiện này có tính áp dụng bắt buộc với chủ thể thành lập doanh nghiệp mà không phân biệt loại hình doanh nghiệp, quy mô hay ngành, nghề kinh doanh. Chủ thể thành lập doanh nghiệp ở đây là các cá nhân, tổ chức mà có thể là cá nhân, tổ chức trong nước; cá nhân, tổ chức nước ngoài và không nằm trong diện đối tượng mà pháp luật quy định không được thực hiện hoạt động kinh doanh. Pháp luật nước ta quy định điều kiện thành lập doanh nghiệp gồm những nhóm điều kiện như điều kiện về chủ thể thành lập, quản lý doanh nghiệp; điều kiện về tài sản; điều kiện về chủ sở hữu, điều kiện về ngành, nghề kinh doanh; điều kiện về tên, địa chỉ doanh nghiệp.
Tất nhiên đây chỉ là những quy định chung nhất, tối thiểu nhất để có thể thành lập nên một doanh nghiệp nói chung còn để đi vào từng loại hình doanh nghiệp hay từng ngành nghề cụ thể lại có những điều kiện chuyên biệt mang tính đặc thù. Nếu chủ thể thành lập doanh nghiệp cố tình có sự che giấu, làm sai lệch về điều kiện của mình để thành lập doanh nghiệp bất hợp pháp thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.2 Pháp luật về thủ tục thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay 1.1Những điều kiện để thành lập doanh nghiệp 1.1 Điều kiện chung Tất cả tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, trừ các trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau: Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; 5 SV: Phạm Thị Tâm MSV: 18117423 Luận văn tốt nghiệp Khoa luật kinh tế Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của thành lập doanh nghiệp: Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.2 Điều kiện riêng * Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh 6 SV: Phạm Thị Tâm MSV: 18117423 Luận văn tốt nghiệp Khoa luật kinh tế nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Nhận xét: Điều kiện về chủ thể của loại hình doanh nghiệp tư nhân đã tạo ra nhiều sự lựa chọn của doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp là vì: Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác * Công ty TNHH Công ty TNHH 2 thành viên trở lên: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân.
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này Công ty TNHH 1 thành viên : Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.