CHƯƠNG 1 Titan Corp. là công ty đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực Internet tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ngày 7 tháng 1 năm 2002. không chỉ tạo sự khác biệt qua dịch vụ sản phẩm mà còn luôn dẫn đầu với những ý tưởng mang tính đột phá cao. Môi trường làm việc sáng tạo đã mang đến cho Titan những bước phát triển bền vững.
Với đội ngũ nhân viên giàu tiềm năng, nhiệt huyết và đầy sáng tạo sẽ ngày càng giúp cho Titan có những bước tiến mới, những đột phá mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, góp phần xây dựng cho chúng ta một nền tri thức mới – tri thức công nghệ cao. Trang 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 2.1 Những vấn đề cơ bản về quản trị chiến lược trong doanh nghiệp 2.1 Một số định nghĩa về quản trị chiến lược - Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản trị quyết định sự thành công lâu dài của doanh nghiệp. - Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. - Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu trong môi trường hiện tại cũng như tương lai.
Chiến lược bao gồm 3 nội dung chính: - Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bằng các hoạt động khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. - Chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh. - Chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp, gắn bó nhịp nhàng các hoạt động trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.2 Một số thuật ngữ cơ bản được sử dụng trong quản trị chiến lược Nhằm làm rõ phạm trù quản trị chiến lược, chúng ta cần hiểu rõ một số thuật ngữ cơ bản: chiến lược gia, chức năng nhiệm vụ, cơ hội và thách thức bên ngoài, điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp, những mục tiêu dài hạn, chiến lược, mục tiêu thường niên và chính sách. Các chiến lược gia ( nhà quản trị ) Các chiến lược gia là các cá nhân chịu trách nhiệm cao nhất đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Những nhà chiến lược có thể đảm trách các công việc hết sức khác nhau như: Tổng giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, người chủ sở hữu hay các nhà doanh nghiệp có xu hướng biến đổi đối với những chiến lược gia trong thế kỷ mới, đó là việc có thêm nhiều nhà lãnh đạo có tầm nhìn rộng lớn, biết kết nối tốt hơn giữa thưởng, phạt, quan hệ gần gũi hơn với người lao động và quan tâm nhiều hơn nữa tới vấn đề đạo đức kinh doanh. Trang 11 Chức năng, nhiệm vụ Chức năng, nhiệm vụ là việc trình bày mục đích lâu dài của doanh nghiệp, đây chính là sự khác biệt giữa nó và các doanh nghiệp cùng hoạt động. Chức năng, nhiệm vụ chỉ ra phạm vi hoạt động của một doanh nghiệp trong lĩnh vực sản phẩm và thị trường. Nó trả lời cho các câu hỏi mà các nhà chiến lược đều phải trả lời, đó là: “công việc của chúng ta là gì?”.
Một bản trình bày rõ rang sẽ định được giá trị và những ưu tiên trong một doanh nghiệp. Trong quá trình phát triển chức năng, nhiệm vụ, các nhà chiến lược buộc phải nghĩ về nội dung và phạm vi của hoạt động tác nghiệp hiện tại; đánh giá mức độ hấp dẫn tiềm năng của thị trường và các hoạt động trong tương lai. Chức năng, nhiệm vụ hiểu theo nghĩa rộng sẽ vạch ra hướng đi trong tương lai của một doanh nghiệp. Những cơ hội, thách thức từ bên ngoài Đây là một thuật ngữ hết sức quan trọng của quản trị chiến lược, nó bao gồm hai nửa: cơ hội từ bên ngoài và thách thức từ bên ngoài.
Cả hai đều đề cập đến kinh tế. xã hội, chính trị; Chính phủ, công nghệ, các xu hướng, cạnh tranh và các sự kiện, tất cả để có thể đem lại lợi ích to lớn hoặc ngược lại, những nguy hiểm khôn lường cho doanh nghiệp trong tương lai. Cơ hội và thách thức nhằm vượt ra khỏi khả năng tác động của doanh nghiệp, chính về thế nó được gọi là “từ bên ngoài”. Cách mạng về máy tính, sinh học, di chuyển dân cư, sự thay đổi trong giá trị và thái độ đối với công việc, sự tăng lên về mức độ cạnh tranh của các công ty nước ngoài là những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp.
Những loại thay đổi đó tạo ra các hình thức tiêu dùng khác nhau và kéo theo nhu cầu đối với các loại sản phẩm, dịch vụ, chiến lược khác nhau. Việc thông qua các dự luật, sự giới thiệu sản phẩm mới của đối thủ cạnh tranh, thảm họa địa phương. Nguyên lý cốt lõi của quản trị chiến lược vẫn là các doanh nghiệp cần hoạch định những chiến lược để nắm lấy những cơ hội và tránh đi hoặc giảm bớt những ảnh hưởng của đe dọa do môi trường bên ngoài tạo ra. Điểm mạnh và điểm yếu bên trong của doanh nghiệp Điểm mạnh và điểm yếu bên trong của doanh nghiệp có thể được kiểm soát thông qua những hoạt động bên trong doanh nghiệp.
Chúng thường ở hai thái cực; một là rất tốt, còn lại là rất kém. Công tác quản trị, marketing, tài chính – kế toán, sản phẩm và sản xuất, công tác nghiên cứu phát triển, hệ thống thông tin về các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là những lĩnh vực quan tâm chính của các hoạt động quản trị chiến lược. Doanh nghiệp cố gắng theo đuổi những chiến lược, tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm còn yếu bên trong doanh nghiệp. Trang 12 Tuy nhiên, các đối thủ cũng có liên quan đến việc định ra các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Một sự thua kém tương đối hay hơi trội hơn một chút có thể là thông tin rất quan trọng. Và điểm mạnh, điểm yếu cũng có thể xác định bằng việc “tốt hơn so với thực tế”. Mục tiêu dài hạn Những mục tiêu có thể được coi là những kết quả cụ thể mà một tổ chức mưu cầu đạt được trong khi theo đuổi những bước công việc cơ bản của nó. Dài hạn có nghĩa là dài hơn một năm.
Những mục tiêu có ý nghĩa lớn đối với sự thành công của doanh nghiệp, bởi vì chúng sẽ chỉ ra phương hướng, bổ trợ cho việc đánh giá, chỉ ra những ưu tiên cần thiết, cho phép có sự phối hợp, là cơ sở cho những kế hoạch tốt, tổ chức. động viên khuyến khích và các hoạt động điều khiển. Những mục tiêu cần phải ở tầm cao, có thể đo lường được, nhất quán, hợp lý rõ rang. Trong những doanh nghiệp lớn, những mục tiêu cần được lập cho toàn doanh nghiệp và cho từng bộ phận.
Chiến lược Chiến lược là những cách thức mà nhờ đó những mục tiêu dài hạn có thể đạt được. Chiến lược kinh doanh có thể là chiến lược mở rộng về mặt địa lý, đa dạng hóa sản phẩm, sáp nhập, phát triển sản phẩm, xâm nhập thị trường, cắt giảm hoặc từ bỏ, thôn tính hoặc liên doanh. Mục tiêu thường niên Mục tiêu thường niên là các mục tiêu ngắn hạn mà doanh nghiệp cần phải đạt được nếu muốn đạt tới mục tiêu dài hạn. Cũng giống như mục tiêu dài hạn, mục tiêu thường niên cũng có những đặc điểm sau: nó có thể được đo lường, có thể tính định lượng, có tính tiên tiến, có tương ứng với các bộ phận kiên định và được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên.
Đối với các công ty lớn, mục tiêu thường niên được lập ra ở cả ba cấp: cấp toàn công ty, cấp cơ sở và cấp đơn vị chức năng. Mục tiêu thường niên thường xuất hiện ở các bộ phận quản trị, marketing, tài chính kế toán, sản phẩm và quá trình tác nghiệp, nghiên cứu và phát triển, hệ thống thông tin về thực hiện công việc. Một tập hợp các mục tiêu thường niên thì cần thiết đối với mỗi mục tiêu dài hạn. Những mục tiêu thường niên thì đặc biệt quan trọng đối với việc thực thi chiến lược, trong khi các mục tiêu dài hạn thì có vai trò quan trọng trong hoạch định chiến lược.
Những mục tiêu thường niên đưa ra những căn cứ cơ bản cho việc phân bổ nguồn lực. Chính sách Trang 13 Chính sách là những phương cách được vận dụng để đạt tới những mục tiêu thường niên của công ty. Chính sách bao gồm những hướng dẫn, quy định, những phương thức được lập ra để phụ giúp cho những nỗ lực nhằm đạt tới những mục tiêu đề ra. Những chính sách còn giúp cho việc đưa ra các quyết định, vạch ra những tình huống sẽ xảy ra thường xuyên hay xảy ra theo định kỳ.
Các chính sách thường xuyên được nêu trong lĩnh vực quản trị, marketing, tài chính kế toán, sản phẩm và quá trình tác nghiệp, nghiên cứu và phát triển, hệ thống thông tin về các hoạt động Các chính sách có thể dưa ra ở cấp toàn công ty và được áp dụng trong toàn công ty; nó cũng có thể được đề ra ở cấp bộ phận riêng lẻ; hoặc cũng có thể được đề ra ở đơn vị chức năng và chỉ được sử dụng trong một vài hoạt động tác nghiệp hoặc tại một vài phòng ban. Cũng giống như mục tiêu thường niên, chính sách rất quan trọng với việc thực thi chiến lược, bởi nó chỉ ra những trông đợi của người lao động và đội ngũ giám đốc của công ty. Các chính sách cho phép phối kết hợp giữa các bộ phận, cũng như trong nội tại từng bộ phận.3 Yêu cầu và vai trò của quản trị chiến lược Yêu cầu: - Phải giúp doanh nghiệp tăng vị thế cạnh tranh - Phải đảm bảo sự an toàn kinh doanh - Phải xác định phạm vi kinh doanh - Phải dự báo môi trường kinh doanh chính xác - Phải có chiến lược dự phòng - Phải xác định đúng thời cơ Vai trò: - Xác định mục đích và hướng đi cho doanh nghiệp ở tương lai - Đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp với môi trường kinh doanh - Duy trì và tăng vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường - Đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn, tăng doanh thu và lợi nhuận Trang 14 2.2 Các giai đoạn của quản trị chiến lược Hình thành Thực hiện Đánh giá chiến lược chiến lược chiến lược 2.