Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" được tác giả Lê Anh Tuấn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Như Phát, bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008. Luận án thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, mã số 62 38 50 01, giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) sau khi Luật Cạnh tranh năm 2004 (LCT 2004) chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau nhiều năm xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam ban hành LCT vào ngày 03 tháng 12 năm 2004. So với đạo luật cạnh tranh đầu tiên trên thế giới của Canada năm 1889, Việt Nam ban hành chậm hơn hơn 100 năm. Sự ra đời của đạo luật là bước cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng; cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền tự do kinh doanh; pháp điển hóa các quy định rải rác trong pháp luật dân sự, kinh tế chuyên ngành và phục vụ tiến trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Tuy nhiên, sau khi LCT 2004 ra đời, các văn bản hướng dẫn thi hành chủ yếu tập trung làm rõ các quy định điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh mà ít chú ý đến các hành vi CTKLM. Trong bối cảnh các thủ pháp cạnh tranh trên thị trường ngày càng phức tạp, việc triển khai áp dụng các quy định về CTKLM gặp nhiều vướng mắc. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Tại thời điểm năm 2008, chưa có công trình cấp độ luận án tiến sĩ nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống từ cơ sở lý luận, các mô hình lập pháp quốc tế, thực trạng quy định của LCT 2004 đối với từng hành vi CTKLM trong mối liên hệ với các luật chuyên ngành, cho đến việc xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật chống CTKLM và mô hình lập pháp; phân tích, luận giải có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật hiện hành; nhận dạng các biểu hiện của hành vi CTKLM trên thị trường; từ đó đề xuất cơ chế bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật chống CTKLM tại Việt Nam.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 7 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ đặc điểm, tính chất chung, cơ cấu của pháp luật cạnh tranh và vấn đề nhận dạng thị trường.
- Làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật chống CTKLM với các luật chuyên ngành và với các lĩnh vực pháp luật liên quan đến áp dụng chế tài.
- Nghiên cứu so sánh và nêu lên một số mô hình lập pháp về CTKLM cùng xu hướng phát triển của pháp luật về chống CTKLM ở các nước trên thế giới.
- Phân tích, bình luận, đánh giá thực trạng các quy định của LCT 2004 và các luật chuyên ngành khác có liên quan điều chỉnh các hành vi CTKLM.
- Nhận dạng các biểu hiện của hành vi CTKLM diễn ra trên thị trường hiện nay.
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục xử lý đối với các hành vi CTKLM.
- Đưa ra các kiến nghị và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và hỗ trợ bảo đảm thực thi pháp luật chống CTKLM.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các mô hình lập pháp về CTKLM; xu hướng phát triển pháp luật chống CTKLM quốc tế; các quy định điều chỉnh hành vi CTKLM trong LCT 2004 và các văn bản pháp luật chuyên ngành; trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện, các biện pháp xử lý và chế tài áp dụng đối với hành vi CTKLM.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong mối quan hệ giữa LCT 2004 với các đạo luật kinh tế chuyên ngành (thương mại, quảng cáo, sở hữu trí tuệ, bảo vệ người tiêu dùng, chất lượng hàng hóa, chứng khoán) và quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Về phạm vi so sánh quốc tế, luận án khảo sát quy định và án lệ của các quốc gia và vùng lãnh thổ tiêu biểu gồm: Đức, Pháp, Bỉ, Italia, Hà Lan, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Bungari, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ. Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn sau khi LCT 2004 được ban hành và đi vào thực thi (2004–2008).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân kỳ và điểm lại các công trình nghiên cứu về cạnh tranh và chống CTKLM ở Việt Nam qua hai giai đoạn:
| Giai đoạn |
Đơn vị / Tác giả thực hiện |
Tên công trình / Đề tài nghiên cứu |
Năm công bố |
| Trước khi ban hành LCT 2004 |
Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Ban Vật giá Chính phủ) |
Các giải pháp kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam |
1996 |
|
Bộ Tư pháp (Dự án VIE/94/003) |
Nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh (Dự án Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam) |
1998 |
|
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) |
Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền tại Việt Nam (Dự án VIE/97/016) |
2001 |
|
Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) |
Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay (Viện KAS tài trợ) |
2001 |
|
PGS.TS. Nguyễn Như Phát, ThS. Bùi Nguyên Khánh |
Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam |
2001 |
|
TS. Đặng Vũ Huân |
Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam |
2004 |
|
GS.TSKH. Đào Trí Úc, PGS.TS. Nguyễn Như Phát, PGS.TS. Trần Đình Hảo, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa |
Các bài báo khoa học trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp |
1996–2004 |
| Sau khi ban hành LCT 2004 |
TS. Lê Hoàng Oanh |
Bình luận khoa học Luật cạnh tranh |
2005 |
|
Nhóm tác giả Trường Đại học Ngoại thương |
Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng |
2005 |
|
PGS.TS. Nguyễn Như Phát, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn |
Phân tích và luận giải các quy định của Luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh |
2006 |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả đánh giá rằng các công trình giai đoạn trước năm 2004 chủ yếu phục vụ mục đích xây dựng luận cứ đề xuất nên hay không nên ban hành LCT. Các công trình sau năm 2004 chủ yếu tập trung vào mảng hành vi hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế). Nếu có đề cập đến CTKLM thì chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa đi sâu phân tích toàn diện 9 nhóm hành vi CTKLM quy định trong LCT 2004, chưa so sánh chuyên sâu với án lệ quốc tế và chưa đề xuất hệ thống giải pháp hoàn chỉnh cho cơ chế thực thi. Do đó, luận án xác định vị trí là công trình đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về mảng pháp luật chống CTKLM tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Bản chất của pháp luật cạnh tranh: Luận án xác định pháp luật cạnh tranh không phải là luật "mở đường" trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mà là loại pháp luật "ngăn cản", "can thiệp". Mục tiêu là ngăn ngừa, xử lý các hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh, nhằm bảo toàn năng lực cạnh tranh thực tế của các doanh nghiệp trên thị trường.
- Ba quan niệm về cạnh tranh không lành mạnh trên thế giới:
- Quan niệm thứ nhất: Bao gồm mọi hành vi xâm hại hoạt động cạnh tranh và quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng nhất cả hành vi hạn chế cạnh tranh vào CTKLM (tiêu biểu như LCT Mông Cổ).
- Quan niệm thứ hai: Theo Điều 10bis Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp (bổ sung năm 1900), CTKLM là bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thực tiễn trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc thương mại (gồm 3 nhóm hành vi: gây nhầm lẫn, gièm pha hạ thấp uy tín, chỉ dẫn gây hiểu sai bản chất hàng hóa).
- Quan niệm thứ ba: CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Luận án khẳng định LCT 2004 của Việt Nam (khoản 4 Điều 3) tiếp nhận quan niệm thứ ba này.
- Tiêu chí nhận dạng thị trường liên quan: Nhận dạng thị trường liên quan là tiền đề áp dụng pháp luật cạnh tranh, bao gồm:
- Thị trường sản phẩm liên quan: Xác định dựa trên tính có thể thay thế về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Về giá cả, áp dụng tiêu chuẩn kiểm định: trên 50% của mẫu ngẫu nhiên 1.000 người tiêu dùng chuyển sang mua sản phẩm khác khi giá sản phẩm tăng quá 10% và duy trì trong 6 tháng liên tiếp (theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP). Trường hợp chưa đủ kết luận, xem xét thêm tỷ lệ thay đổi của cầu, thời gian cung ứng, thời gian sử dụng và khả năng thay thế về cung.
- Thị trường địa lý liên quan: Xác định theo ranh giới không gian có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng kể với vùng lân cận, căn cứ vào chi phí và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ tăng không quá 10%, cùng sự hiện diện của các rào cản gia nhập thị trường (pháp lý, tài chính, sở hữu trí tuệ, tập quán).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên đường lối kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Mổ xẻ nội dung các điều khoản trong LCT 2004, Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Thương mại 2005 và các nghị định hướng dẫn.
- Phương pháp so sánh luật học: Khảo sát, đối chiếu các mô hình lập pháp và quy định chống CTKLM của các nước thuộc hệ thống Civil Law (Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Áo, Bắc Âu) và Common Law (Anh, Mỹ).
- Phương pháp tổng hợp và logic: Hệ thống hóa các nhóm hành vi, cơ cấu chế tài và thiết chế thực thi.
- Phương pháp lịch sử và phương pháp chuyên gia: Phân tích tiến trình lập pháp cạnh tranh ở Việt Nam và tiếp thu các quan điểm học thuật chuyên ngành.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; các điều ước quốc tế (Công ước Paris, Hiệp định TRIPS, các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu); các đạo luật cạnh tranh và án lệ nước ngoài; các tài liệu hội thảo, đề tài nghiên cứu cấp bộ và các ấn phẩm bình luận khoa học đã công bố trong giai đoạn 1996–2008.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về cạnh tranh và phân định cấu trúc pháp luật cạnh tranh:
- Đặc điểm và cơ cấu: Pháp luật cạnh tranh được cấu thành từ hai trụ cột độc lập nhưng tác động tương hỗ: pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh/Cartel, lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền, tập trung kinh tế) nhằm bảo vệ tính tự do của cạnh tranh và cấu trúc thị trường; và pháp luật chống CTKLM nhằm bảo vệ tính lành mạnh, trật tự đạo đức kinh doanh.
- Phân loại hành vi CTKLM theo lý luận quốc tế: Luận án chia thành hai nhóm chính:
- Nhóm hành vi xâm hại trực tiếp đối thủ cạnh tranh: Ngăn cản (bán hàng dưới giá vốn trong điều kiện bình thường, tẩy chay khách hàng); Gièm pha, bôi nhọ đối thủ; Bội tín (chiếm đoạt bí mật kinh doanh); Bóc lột (hưởng dụng trái phép thành quả của đối thủ, hàng nhái, quảng cáo so sánh, quảng cáo dựa dẫm).
- Nhóm hành vi xâm hại trực tiếp khách hàng: Can thiệp vào quyền tự do định đoạt của khách hàng (lừa dối, ép buộc, quấy rầy, mô hình bán hàng đa cấp bất chính/quả bóng tuyết); Khuyến mại không lành mạnh; Quảng cáo sai lệch.
- Vị trí và mối quan hệ pháp luật: Pháp luật chống CTKLM thuộc nhóm pháp luật điều chỉnh quan hệ thị trường, có mối liên hệ mật thiết với Luật Sở hữu trí tuệ (phân biệt qua mục đích cạnh tranh), Luật Bảo vệ người tiêu dùng, và phối hợp với các công cụ chế tài dân sự (bồi thường thiệt hại), hành chính và hình sự.
- Mô hình lập pháp trên thế giới:
- Mô hình xây dựng đạo luật riêng: Đức, Áo, Hy Lạp, Bỉ, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan. Mô hình này sử dụng Điều khoản tổng quát (General Clause) cấm mọi hành vi phản cạnh tranh lành mạnh, kết hợp các điều khoản cụ thể.
- Mô hình sử dụng Bộ luật Dân sự: Italia (Điều 2598 Codice Civile); Hà Lan (Điều 6:162 Burgerlijk Wetboek dựa trên trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng); Pháp (nguyên tắc án lệ concurrence déloyale phát triển từ chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
- Mô hình sử dụng án lệ và thông luật: Anh, Mỹ, Ireland (kết hợp án lệ Common Law với các quy chế tự quản).
- Xu hướng phát triển quốc tế: Đa dạng hóa thiết chế thực thi (Thanh tra người tiêu dùng - Ombudsman ở Bắc Âu, Tòa án thị trường chuyên trách, Cơ quan quản lý cạnh tranh OFT của Anh); Đa dạng hóa chế tài (Luật mềm - Soft Law, cảnh báo công khai, án lệnh chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại và hình phạt); Hài hòa hóa pháp luật khu vực (các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu như Chỉ thị 85/57/EEC về bán hàng tại nhà, 97/7/EC về bán hàng từ xa, 98/27/EC về khởi kiện chấm dứt hành vi).
Chương 2: Thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Chương 2 phân tích thực trạng các quy phạm điều chỉnh 9 nhóm hành vi CTKLM quy định tại LCT 2004 và các luật chuyên ngành liên quan:
- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn (Điều 40): Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu, biểu tượng kinh doanh, bao bì, nhãn hiệu hàng hóa. Luận án phân tích ranh giới giữa bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo Luật SHTT 2005 và bảo vệ trật tự cạnh tranh theo LCT 2004.
- Xâm phạm bí mật kinh doanh (Điều 41): Các hành vi tiếp cận, thu thập thông tin bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật; tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật kinh doanh không được phép của chủ sở hữu; vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lôi kéo người làm công của đối thủ.
- Ép buộc trong kinh doanh (Điều 42): Hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép khách hàng, đối tác của đối thủ cạnh tranh nhằm buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với đối thủ.
- Gièm pha doanh nghiệp khác (Điều 43): Hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.
- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác (Điều 44): Hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp đối thủ.
- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 45): Gồm hành vi so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; bắt chước sản phẩm quảng cáo; đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá cả, số lượng, chất lượng, công dụng, bao bì, xuất xứ hàng hóa.
- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh (Điều 46): Tổ chức khuyến mại gian dối; khuyến mại không trung thực; phân biệt đối xử giữa các khách hàng tại các chương trình khuyến mại; tặng hàng mẫu nhưng yêu cầu đổi hàng của doanh nghiệp khác.
- Phân biệt đối xử trong hiệp hội (Điều 47): Hành vi của hiệp hội ngành nghề sử dụng quy chế nội bộ hoặc quyết định phân biệt đối xử, từ chối kết nạp hoặc khai trừ thành viên một cách bất hợp lý nhằm hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Bán hàng đa cấp bất chính (Điều 48): Mô hình kim tự tháp, yêu cầu người tham gia phải đặt cọc, nộp tiền hoặc mua lượng hàng hóa ban đầu; không cam kết mua lại hàng hóa; cho người tham gia nhận tiền hoa hồng chủ yếu từ việc tuyển dụng người mới thay vì bán sản phẩm.
Về trình tự, thủ tục xử lý: Phân tích thẩm quyền của Cơ quan quản lý cạnh tranh (Cục Quản lý cạnh tranh) và Hội đồng cạnh tranh; quy trình tiếp nhận hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh, điều tra sơ bộ, điều tra chính thức, xử lý vi phạm hành chính và ban hành quyết định xử lý.
Chương 3: Cơ chế bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Chương 3 trình bày hệ thống giải pháp và kiến nghị được tác giả phân thành hai nhóm:
- Nhóm đề xuất hoàn thiện pháp luật chống CTKLM:
- Hoàn thiện câu chữ và cấu thành pháp lý của từng nhóm hành vi CTKLM trong LCT 2004, bảo đảm sự tương thích với Luật SHTT 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự.
- Xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể cho các hành vi CTKLM phức tạp như quảng cáo so sánh ngầm, khuyến mại trá hình và bán hàng đa cấp bất chính.
- Bổ sung cơ chế bồi thường thiệt hại dân sự rõ ràng trong tố tụng cạnh tranh, làm rõ mối quan hệ giữa chế tài hành chính của Cơ quan quản lý cạnh tranh và phán quyết bồi thường của Tòa án.
- Nhóm đề xuất hỗ trợ bảo đảm thực thi pháp luật:
- Củng cố địa vị pháp lý, tính độc lập và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ điều tra viên của Cơ quan quản lý cạnh tranh.
- Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý cạnh tranh với lực lượng Quản lý thị trường, cơ quan Hải quan, Thanh tra chuyên ngành và cơ quan Công an.
- Phát huy vai trò tự quản của các hiệp hội ngành nghề và nâng cao năng lực khởi kiện tập thể của các Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh cho cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng nhằm xây dựng văn hóa cạnh tranh lành mạnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
Luận án tự xác định các điểm mới khoa học chủ yếu:
- Là luận án tiến sĩ đầu tiên khái quát có hệ thống một số mô hình lập pháp về CTKLM và xu hướng phát triển của pháp luật về chống CTKLM ở các nước trên thế giới.
- Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu, phân tích, luận giải chuyên sâu về 9 nhóm hành vi CTKLM theo quy định của LCT 2004 và các văn bản pháp luật liên quan.
- Là công trình đầu tiên đặt các hành vi CTKLM trong mối quan hệ hệ thống với nhiều đạo luật kinh tế chuyên ngành trong hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án đã nghiên cứu tổng thể thực trạng các dạng biểu hiện phổ biến nhất của các hành vi CTKLM diễn ra trên thị trường Việt Nam thời kỳ đầu thi hành LCT 2004.
- Trên cơ sở diễn biến khách quan của thị trường, luận án đã dự báo các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới sẽ xuất hiện và đề xuất cơ chế đồng bộ nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật chống CTKLM ở Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án được thực hiện tại thời điểm LCT 2004 mới đi vào áp dụng được một thời gian ngắn (2005–2008), do đó số lượng vụ việc và án lệ thực tế được xử lý bởi Cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam còn hạn chế. Phạm vi khảo sát quốc tế chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế phát triển tiêu biểu ở Châu Âu và Bắc Mỹ, chưa mở rộng phân tích sâu các nước trong khối ASEAN.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu đánh giá hiệu quả áp dụng thực tế các chế tài của Hội đồng cạnh tranh và Tòa án qua các vụ việc cụ thể; nghiên cứu các hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới phát sinh trong môi trường kinh tế số và thương mại điện tử; hoàn thiện quy trình tố tụng dân sự chuyên biệt đối với các vụ kiện bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan xây dựng chính sách và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh, sửa đổi các nghị định hướng dẫn thi hành và định hình cơ chế phối hợp thực thi.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật kinh tế khi nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh, pháp luật sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Cộng đồng doanh nghiệp và luật sư thực hành: Cung cấp khung đối chiếu nhận diện 9 nhóm hành vi CTKLM, quy trình khiếu nại và biện pháp tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định bản chất của pháp luật cạnh tranh có điểm gì khác biệt so với các ngành luật kinh tế thông thường?
Luận án chỉ rõ pháp luật cạnh tranh không mang tính "mở đường" nhằm trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp (năng lực này phụ thuộc vào vốn, công nghệ, quản trị). Ngược lại, pháp luật cạnh tranh thuộc loại pháp luật "ngăn cản", mang tính "can thiệp", có chức năng bảo toàn năng lực cạnh tranh thực tế của các chủ thể bằng cách ngăn chặn và xử lý các hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức kinh doanh.
2. Có những mô hình lập pháp chống cạnh tranh không lành mạnh nào được tác giả tổng hợp từ kinh nghiệm quốc tế?
Tác giả tổng hợp 3 mô hình lập pháp chính:
- Mô hình xây dựng đạo luật riêng về chống CTKLM (Đức, Áo, Bỉ, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan) sử dụng Điều khoản tổng quát kết hợp quy định cụ thể.
- Mô hình sử dụng các quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự (Italia, Hà Lan, Pháp).
- Mô hình áp dụng án lệ và thông luật Common Law kết hợp các quy chế tự quản (Anh, Mỹ, Ireland).
3. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam được xây dựng trên quan niệm nào?
Luật Cạnh tranh 2004 tiếp nhận quan niệm thứ ba trong lý luận quốc tế: CTKLM là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng (khoản 4 Điều 3).
4. Mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật sở hữu trí tuệ được luận án phân định như thế nào?
Luận án chỉ ra hai lĩnh vực này có sự giao thoa lớn nhưng khác nhau về mục đích và phạm vi điều chỉnh. Pháp luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo hộ quyền tài sản và nhân thân của chủ sở hữu trước hành vi xâm phạm trái phép vì mục đích tư lợi. Trong khi đó, pháp luật chống CTKLM bảo vệ trật tự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường và quyền lợi người tiêu dùng khi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện với động cơ cạnh tranh giữa các đối thủ trong cùng thị trường liên quan.
5. Tiêu chuẩn định lượng để xác định tính thay thế về giá cả trong thị trường sản phẩm liên quan theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP được nêu trong luận án là gì?
Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về giá cả nếu trên 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng tương tự khi giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 6 tháng liên tiếp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" của tác giả Lê Anh Tuấn là công trình luật học phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam giai đoạn sau khi LCT 2004 ban hành. Tác giả đã làm rõ bản chất can thiệp của pháp luật cạnh tranh, đối chiếu ba mô hình lập pháp quốc tế và các xu hướng thiết chế, chế tài trên thế giới. Đồng thời, luận án đã phân tích cấu thành pháp lý của 9 nhóm hành vi CTKLM thực định và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định, củng cố cơ chế thực thi nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng.