Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ hội phát triển nhưng đồng thời tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt cho các doanh nghiệp trong nước. Trong nền kinh tế thị trường, các biến động tiêu cực từ môi trường kinh doanh như lạm phát, áp lực lãi suất tăng cao, biến động giá cả nguyên vật liệu cùng tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và sự trầm lắng của thị trường bất động sản đã khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng đình trệ, thua lỗ hoặc phá sản. Thực tiễn này đòi hỏi các tổ chức kinh tế phải xây dựng một cơ chế nhận diện, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro một cách chủ động nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững.
Tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội, công tác quản trị rủi ro từ khi thành lập (năm 2007) đến giai đoạn nghiên cứu vẫn chưa được coi trọng đúng mức. Doanh nghiệp từng phải đối mặt với nhiều sự cố gây thiệt hại kinh tế như biến động tăng giá sắt thép, xi măng trong giai đoạn 2010 – 2011 buộc công ty phải bù lỗ cho các hợp đồng xây lắp, hoặc sự kiện nhà cung ứng vật liệu bị phá sản năm 2009 làm gián đoạn tiến độ công trình. Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và tìm kiếm giải pháp hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tại đơn vị.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro, rủi ro trong kinh doanh và công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội giai đoạn từ năm 2010 đến quý II năm 2013.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty trong giai đoạn hiện tại và định hướng đến năm 2018.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội và các công trình, dự án xây lắp do công ty đảm nhận.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập và phân tích trong giai đoạn từ năm 2010 đến quý II năm 2013; các định hướng, giải pháp đề xuất phục vụ cho giai đoạn 2013 – 2018.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 khâu của quy trình quản trị rủi ro doanh nghiệp gồm nhận dạng rủi ro, phân tích đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa các quan điểm học thuật về rủi ro và quản trị rủi ro từ các công trình nghiên cứu kinh tế:
- Khái niệm và trường phái rủi ro: Tác giả trích dẫn định nghĩa rủi ro của Frank Knight ("sự bất trắc có thể đo lường được"), Allan Wilett, Irving Prefer, tài liệu của TS. Nguyễn Anh Tuấn (Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại thương, NXB Lao động – Xã hội), PGS.TS. Nguyễn Quang Thu (Quản trị rủi ro và bảo hiểm trong doanh nghiệp, NXB Thống kê, 2008) và bài giảng của Bộ môn Nguyên lý Quản trị – Trường Đại học Thương mại. Về mặt tiếp cận, đề tài phân tích hai trường phái: Trường phái truyền thống (coi rủi ro là yếu tố tiêu cực, mất mát, không thể đo lường chính xác và doanh nghiệp chỉ có thể chấp nhận hoặc né tránh) và Trường phái trung hòa (coi rủi ro là sự biến động tiềm ẩn hai chiều, vừa mang đến tổn thất vừa tạo ra cơ hội nếu được nhận diện và kiểm soát khoa học).
- Phân loại rủi ro: Phân loại theo tổn thất tài chính/phi tài chính, rủi ro động và rủi ro tĩnh, rủi ro căn bản và rủi ro cá biệt, rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán.
- Quy trình quản trị rủi ro: Được chuẩn hóa qua 4 giai đoạn logic:
- Nhận dạng nguy hiểm và rủi ro: Xác định các nguy cơ đối với tài sản, trách nhiệm pháp lý, nguồn nhân lực bắt nguồn từ môi trường kinh tế, chính trị, pháp lý, xã hội, hoạt động vận hành, ý thức con người và môi trường vật chất tự nhiên.
- Phân tích và đo lường rủi ro: Đánh giá dựa trên tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất thông qua Thang đo ảnh hưởng (5 mức: Nghiêm trọng, Nhiều, Trung bình, Ít, Không đáng kể), Thang đo khả năng xảy ra (5 mức: Hầu như chắc chắn xảy ra, Dễ xảy ra, Có thể xảy ra, Khó xảy ra, Hiếm khi xảy ra) và Bảng ma trận sắp xếp thứ tự ưu tiên xử lý rủi ro.
- Kiểm soát rủi ro: Áp dụng các biện pháp né tránh, ngăn ngừa tổn thất (giảm tần số xuất hiện) và giảm thiểu tổn thất (hạn chế giá trị hư hại).
- Tài trợ rủi ro: Bao gồm tài trợ trước tổn thất và sau tổn thất thông qua hai phương pháp chính là lưu giữ rủi ro (lưu giữ thụ động hoặc chủ động có kế hoạch) và chuyển giao rủi ro (chủ yếu qua hợp đồng bảo hiểm).
- Nhân tố ảnh hưởng: Xem xét tác động tổng hợp từ môi trường vĩ mô (tình hình kinh tế, chính trị - pháp luật, văn hóa, môi trường tự nhiên) và môi trường vi mô (nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, khách hàng, biến động cung cầu giá cả, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa thông tin từ giáo trình, sách chuyên ngành, văn bản pháp luật, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo cơ cấu lao động của Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội các năm 2010, 2011, 2012 và 6 tháng đầu năm 2013.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Điều tra trắc nghiệm bằng bảng câu hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát phát trực tiếp cho cán bộ quản lý và nhân viên công ty nhằm thu thập đánh giá về mức độ rủi ro gặp phải (mẫu khảo sát 7 phiếu), mức độ ảnh hưởng của các dạng rủi ro và thực trạng công tác quản trị rủi ro (mẫu khảo sát 15 người gồm 8 nhà quản trị và 7 nhân viên), mức độ tác động của các nhân tố môi trường (mẫu khảo sát 20 phiếu).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp 8 cán bộ quản lý cấp phòng ban và Ban Giám đốc nhằm làm rõ nhận thức về tầm quan trọng của quản trị rủi ro và các vướng mắc trong khâu điều hành thực tế.
- Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp dữ liệu khảo sát, tính toán tỷ lệ phần trăm, lập bảng thống kê so sánh và đối chiếu dữ liệu sơ cấp với các chỉ tiêu tài chính thứ cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro, rủi ro trong kinh doanh và quản trị rủi ro trong doanh nghiệp thương mại
Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết nền tảng về rủi ro kinh doanh và quản trị rủi ro doanh nghiệp. Tác giả phân tích các nguyên nhân khách quan (suy thoái kinh tế, lạm phát, biến động tỷ giá, thay đổi thể chế pháp luật, thiên tai) và nguyên nhân chủ quan (sai lầm chiến lược, thiếu hụt thông tin, hạn chế trình độ chuyên môn, sự bất cẩn hoặc suy thoái đạo đức của người lao động).
Nội dung trọng tâm của chương là quy trình quản trị rủi ro gồm 4 bước và bộ công cụ đánh giá ma trận ưu tiên:
| Mức độ ảnh hưởng / Xác suất xảy ra |
Không đáng kể |
Ít |
Trung bình |
Nhiều |
Nghiêm trọng |
| Hầu như chắc chắn xảy ra |
Thấp |
Trung bình |
Trung bình |
Cao |
Cao |
| Dễ xảy ra |
Thấp |
Thấp |
Trung bình |
Trung bình |
Cao |
| Có thể xảy ra |
Thấp |
Thấp |
Trung bình |
Trung bình |
Cao |
| Khó xảy ra |
Thấp |
Thấp |
Trung bình |
Trung bình |
Cao |
| Hiếm khi xảy ra |
Thấp |
Thấp |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
Bên cạnh đó, chương 1 phân tích chi tiết cơ chế kiểm soát rủi ro (sơ đồ kết hợp giữa ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thất) và tài trợ rủi ro (phân biệt giữa lưu giữ tổn thất tự bảo hiểm, quỹ tích lũy với chuyển giao tổn thất qua bảo hiểm thương mại hoặc hợp đồng kinh tế).
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công Ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội
Chương 2 trình bày tổng quan về doanh nghiệp, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh, cơ cấu tổ chức và đánh giá chi tiết 4 khâu quản trị rủi ro tại đơn vị. Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội được thành lập ngày 28/09/2007, hoạt động chính trong lĩnh vực thi công xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, nhà ở, hạ tầng đô thị. Ban lãnh đạo gồm Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành Lương Xuân Cường, hỗ trợ bởi 3 phòng chức năng (Kinh doanh, Kỹ thuật, Kế toán - Tài chính) và 3 tổ thi công trực tiếp.
Về nhân sự và quy mô hoạt động, lao động của công ty tăng trưởng qua các năm: 265 người (năm 2010), 273 người (năm 2011) và 288 người (năm 2012). Cơ cấu lao động năm 2012 phản ánh đặc thù ngành xây lắp với lực lượng công nhân kỹ thuật chiếm đa số (222 người), độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ trọng lớn (203 người).
| Trình độ chuyên môn (Năm 2012) |
Số lượng (Người) |
Cơ cấu độ tuổi (Năm 2012) |
Số lượng (Người) |
| Kỹ sư xây dựng |
12 |
Dưới hoặc bằng 30 tuổi |
203 |
| Kiến trúc sư |
06 |
Từ 31 đến 40 tuổi |
58 |
| Cử nhân kinh tế |
15 |
Từ 41 đến 50 tuổi |
16 |
| Kỹ sư máy xây dựng |
06 |
Từ 51 đến 55 tuổi |
11 |
| Cao đẳng xây dựng |
11 |
Trên 55 tuổi |
0 |
| Trung cấp xây dựng |
16 |
|
|
| Công nhân kỹ thuật |
222 |
|
|
| Tổng số lao động |
288 |
Tổng số lao động |
288 |
Về kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2010 – 2012:
- Năm 2010: Doanh thu đạt 32,880 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 7,140 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 5,135 tỷ đồng.
- Năm 2011: Tình hình kinh tế khó khăn khiến số lượng công trình sụt giảm, lợi nhuận sau thuế giảm 873 triệu đồng so với năm 2010.
- Năm 2012: Doanh thu phục hồi đạt 34,840 tỷ đồng nhờ mở rộng thi công sang các tỉnh lân cận (Hưng Yên, Hải Dương, Thái Nguyên với các dự án Đồng Hỷ, Phổ Yên, Túc Duyên), tuy nhiên chi phí quản lý tăng 19,11% và các chi phí khác tăng hơn 8% so với năm 2011.
Qua khảo sát thực tế và phân tích tình huống, tác giả chỉ ra các rủi ro điển hình công ty thường gặp:
- Rủi ro giá cả nguyên vật liệu: Năm 2010 – 2011, giá sắt thép, xi măng biến động lớn khiến công ty phải bù lỗ cho 2 công trình đã ký hợp đồng trọn gói.
- Rủi ro phá sản của nhà cung ứng: Năm 2009, hợp đồng trị giá 830 triệu đồng ký với Công ty Cổ phần Thương mại và Vật liệu Xây dựng Hà Trang bị đổ vỡ do đối tác phá sản, làm đình trệ tiến độ công trình.
- Rủi ro pháp lý và chính sách: Năm 2013, các điều chỉnh chính sách về thuế (tăng mức xử phạt vi phạm), quy định thu phí bảo trì đường bộ đối với phương tiện vận tải và điều chỉnh tăng lương cơ bản đã làm gia tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp.
Kết quả điều tra thực trạng quản trị rủi ro tại doanh nghiệp cho thấy:
- Về mức độ rủi ro gặp phải (n=7): 28,57% đánh giá "rất nhiều", 57,14% đánh giá "nhiều", 14,29% đánh giá "ít".
- Về mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến sản xuất kinh doanh (n=15): 86,7% cho rằng ảnh hưởng nhiều và rất nhiều (33,3% rất nhiều; 53,4% nhiều; 13,3% ít ảnh hưởng).
| STT |
Các loại rủi ro thường gặp |
Ảnh hưởng rất nhiều (%) |
Ảnh hưởng nhiều (%) |
Ít ảnh hưởng (%) |
| 1 |
Rủi ro máy móc thiết bị |
66,7% (10/15) |
20,0% (3/15) |
13,4% (2/15) |
| 2 |
Rủi ro chậm tiến độ công trình |
53,3% (8/15) |
26,7% (4/15) |
20,0% (3/15) |
| 3 |
Rủi ro tai nạn lao động |
33,3% (5/15) |
46,7% (7/15) |
20,0% (3/15) |
| 4 |
Rủi ro do chất lượng kỹ thuật |
33,3% (5/15) |
40,0% (6/15) |
26,7% (4/15) |
| 5 |
Rủi ro pháp luật |
20,0% (3/15) |
53,3% (8/15) |
26,7% (4/15) |
| 6 |
Rủi ro nhà cung ứng |
20,0% (3/15) |
46,7% (7/15) |
33,3% (5/15) |
| 7 |
Rủi ro biến động giá cả thị trường |
13,4% (2/15) |
33,3% (5/15) |
53,3% (8/15) |
Đánh giá thực trạng quy trình quản trị rủi ro tại công ty:
- Nhận dạng: Hàng năm đầu tư 30 triệu đồng cho đào tạo nhân viên nhận dạng rủi ro, tuy nhiên việc nhận diện còn tản mạn, chưa có quy chuẩn.
- Phân tích: Việc đánh giá tần suất và mức độ thiệt hại còn dựa vào cảm tính cá nhân của nhà quản trị, thiếu mô hình định lượng.
- Kiểm soát: Đã áp dụng các biện pháp tình thế như né tránh, ngăn ngừa, chọn nhà cung cấp uy tín, thuê thêm kho dự trữ vật liệu.
- Tài trợ: Hàng năm trích 400 triệu đồng từ lợi nhuận kinh doanh lập quỹ phòng ngừa rủi ro tự tài trợ; đồng thời thực hiện mua bảo hiểm lao động cho công nhân thi công và mua bảo hiểm vận tải cho các lô hàng có giá trị lớn.
- Đánh giá chung về thực trạng công tác QTRR (n=15): Có 46,7% ý kiến đánh giá "Kém", 33,3% đánh giá "Bình thường" và 20% đánh giá "Tốt". Đánh giá của 8 nhà quản trị về tầm quan trọng của QTRR ghi nhận 87,5% khẳng định công tác này có ý nghĩa quan trọng đến rất quan trọng (37,5% rất quan trọng; 50% quan trọng; 12,5% ít quan trọng).
Khóa luận kết luận các tồn tại chính: nhận thức về rủi ro chưa đầy đủ, phản ứng khi xảy ra sự cố còn chậm và lúng túng, các bước trong quy trình quản trị rủi ro chưa có sự phối hợp đồng bộ, chưa có bộ phận chuyên trách và các biện pháp áp dụng chủ yếu mang tính giải quyết tình thế.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công Ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội
Chương 3 xây dựng các giải pháp hoàn thiện xuất phát từ chiến lược phát triển giai đoạn 2013 – 2018 của doanh nghiệp. Mục tiêu chiến lược của công ty là mở rộng thị phần xây lắp sang các thị trường tiềm năng ngoài Hà Nội như Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên; đồng thời thực hiện chỉ tiêu tiết giảm chi phí quản lý và kinh doanh năm 2013 là 8%, các năm tiếp theo mỗi năm giảm thêm 1%.
Tác giả xác lập 3 quan điểm chỉ đạo hoàn thiện:
- Quản trị rủi ro là biện pháp cơ bản, chủ động, tích cực nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, giảm nhẹ chi phí và duy trì phát triển bền vững.
- Quản trị rủi ro đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp mang tính đồng bộ và toàn diện.
- Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro phải được tiến hành song song, kết hợp chặt chẽ với các giải pháp phát triển kinh doanh.
Hệ thống giải pháp cụ thể được đề xuất gồm:
- Đổi mới nhận thức và tư duy quản trị rủi ro: Tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền nâng cao ý thức trách nhiệm cho toàn thể cán bộ công nhân viên; hình thành văn hóa tự giác nhận diện nguy cơ tại từng vị trí làm việc, xóa bỏ tâm lý ỷ lại vào chính sách vĩ mô.
- Hoàn thiện các khâu nghiệp vụ trong quy trình quản trị rủi ro:
- Hoàn thiện nhận dạng rủi ro: Trang bị thiết bị công nghệ hỗ trợ, đào tạo kỹ năng phát hiện hiểm họa từ môi trường tự nhiên, biến động giá, đối tác và khách hàng.
- Hoàn thiện phân tích rủi ro: Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên sâu, lập bảng biểu đánh giá mức độ tổn thất bằng số liệu định lượng cụ thể để phục vụ việc ra quyết định.
- Hoàn thiện kiểm soát rủi ro: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện chế độ đãi ngộ để giữ chân lao động kỹ thuật; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo cung cầu thị trường và thiết lập mối quan hệ hợp tác chiến lược lâu dài với các nhà cung ứng uy tín.
- Kiện toàn bộ máy tổ chức và đào tạo cán bộ: Xác định rõ chức năng, quyền hạn của từng phòng ban trong công tác quản trị rủi ro; đào tạo kỹ năng đàm phán hợp đồng kinh tế và giám sát kỹ thuật thi công.
- Hoàn thiện hệ thống thông tin nội bộ: Đảm bảo luồng thông tin thông suốt giữa Ban Giám đốc, các phòng chức năng và các tổ thi công tại công trường nhằm phản ứng nhanh trước các sự cố phát sinh.
- Kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước: Đề xuất hoàn thiện khung pháp lý về quản lý đầu tư xây dựng, ổn định chính sách thuế và lãi suất nhằm tạo môi trường kinh doanh minh bạch, hỗ trợ doanh nghiệp xây lắp vừa và nhỏ.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
Khóa luận đã phản ánh trung thực bức tranh thực tế về công tác quản trị rủi ro tại một doanh nghiệp xây dựng quy mô vừa trong giai đoạn kinh tế biến động (2010 – 2013). Các kết quả nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Thống kê và làm rõ các số liệu hoạt động kinh doanh then chốt: Doanh thu 32,880 tỷ đồng năm 2010 và 34,840 tỷ đồng năm 2012; lợi nhuận sau thuế năm 2011 sụt giảm 873 triệu đồng; quy mô lao động tăng từ 265 người (2010) lên 288 người (2012) với 222 công nhân kỹ thuật.
- Đo lường thực trạng quản trị rủi ro qua khảo sát định lượng: 86,7% nhân sự đánh giá rủi ro tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh; 46,7% đánh giá công tác quản trị rủi ro hiện tại ở mức kém; rủi ro máy móc thiết bị (66,7%) và rủi ro chậm tiến độ (53,3%) được nhận định là những yếu tố gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
- Ghi nhận các thông số tài chính thực tế về quản trị rủi ro: Chi phí đầu tư cho đào tạo nhận dạng rủi ro là 30 triệu đồng/năm; mức trích lập quỹ dự phòng tự tài trợ tổn thất là 400 triệu đồng/năm trích từ lợi nhuận kinh doanh.
Giải pháp đề xuất
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp gắn với mục tiêu chiến lược giai đoạn 2013 – 2018 (giảm chi phí quản lý 8% năm 2013, mỗi năm sau giảm thêm 1%):
- Đổi mới nhận thức, tư duy quản trị rủi ro cho toàn bộ cán bộ công nhân viên.
- Chuẩn hóa quy trình 4 bước từ nhận dạng, phân tích định lượng, kiểm soát đến tài trợ rủi ro.
- Cải tiến tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cảnh báo rủi ro nội bộ.
Đóng góp so với các nghiên cứu trước
Trong phần tổng quan nghiên cứu, tác giả đã phân tích hạn chế của hai đề tài liên quan: công trình của Phan Đình Bình (nghiên cứu tại Công ty CP Bất động sản Nội thất Đất Việt) thiếu tính thực tế khi áp dụng và hình thức trình bày chưa khoa học; công trình của Nguyễn Thành Luân (nghiên cứu tại Công ty Dược Đông Âu) chưa đi sâu phân tích nguyên nhân của các yếu kém trong công tác phòng ngừa rủi ro. Khóa luận này là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội, chỉ rõ các sự cố thực tế (như vụ việc hợp đồng 830 triệu đồng với đối tác Hà Trang) và đề xuất các giải pháp gắn liền với đặc thù thi công xây lắp của doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Tác giả thẳng thắn thừa nhận đề tài còn những hạn chế do điều kiện thời gian nghiên cứu, kinh nghiệm thực tế và năng lực cá nhân. Về mặt phương pháp, dung lượng mẫu điều tra sơ cấp còn nhỏ (7 phiếu khảo sát mức độ rủi ro, 15 phiếu đánh giá thực trạng quy trình và dạng rủi ro, 20 phiếu đánh giá nhân tố ảnh hưởng, 8 phiếu phỏng vấn quản lý), việc phân tích và đo lường rủi ro tại doanh nghiệp vẫn dừng lại ở mức định tính dựa trên thang đo điểm, chưa ứng dụng các mô hình tài chính định lượng phức tạp để dự báo tổn thất.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Dựa trên phạm vi nghiên cứu, các công trình tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu sang giai đoạn sau năm 2013 khi doanh nghiệp mở rộng địa bàn hoạt động sang các tỉnh Thái Nguyên, Hưng Yên, Hải Dương; đồng thời xây dựng các mô hình định lượng đánh giá tổn thất tài chính và rủi ro hợp đồng xây dựng chi tiết cho từng dự án quy mô lớn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành: Ngành Quản trị Doanh nghiệp, Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Xây dựng khi tìm hiểu về phương pháp luận nghiên cứu thực trạng và thiết kế bảng hỏi khảo sát rủi ro trong doanh nghiệp.
- Nhà quản trị doanh nghiệp xây lắp: Tham khảo mô hình quy trình quản trị rủi ro 4 bước, cách thức xây dựng bảng ma trận ưu tiên xử lý rủi ro và các giải pháp thực tế về quản lý nhà cung ứng, kiểm soát máy móc và trích lập quỹ tự tài trợ rủi ro phù hợp với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Nội dung tham khảo giá trị nhất: Phần phân tích các sự cố rủi ro thực tế trong ngành xây dựng tại Chương 2 (biến động giá sắt thép xi măng, sự cố nhà cung cấp vật liệu phá sản, các thay đổi chính sách thuế và phí vận tải năm 2013) cùng bộ số liệu khảo sát thực tế tại đơn vị.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu tại doanh nghiệp nào và thuộc chuyên ngành đào tạo gì?
Khóa luận nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội, do sinh viên Trần Văn Đô thực hiện thuộc chuyên ngành Quản trị Doanh nghiệp, Khoa Quản trị Doanh nghiệp, Trường Đại học Thương mại (bảo vệ năm 2013).
2. Công ty đã gặp phải tổn thất thực tế nào từ việc đối tác cung ứng vật liệu phá sản?
Năm 2009, công ty ký hợp đồng mua lô hàng vật liệu xây dựng (thép cuộn, thép cây, xi măng, sơn...) trị giá 830 triệu đồng với Công ty Cổ phần Thương mại và Vật liệu Xây dựng Hà Trang. Do đối tác này bị phá sản bởi biến động kinh tế và năng lực quản lý yếu kém, tiến độ thi công công trình của công ty đã bị chậm trễ và chịu thiệt hại tài chính.
3. Công ty đang chi trả bao nhiêu kinh phí cho việc đào tạo nhận dạng và lập quỹ phòng ngừa rủi ro hàng năm?
Theo số liệu công bố tại Chương 2 của khóa luận, hàng năm doanh nghiệp chi 30 triệu đồng cho công tác đào tạo nhân viên nhận dạng rủi ro và trích 400 triệu đồng từ lợi nhuận kinh doanh để tạo lập quỹ tự tài trợ, khắc phục tổn thất khi rủi ro phát sinh.
4. Dạng rủi ro nào được cán bộ nhân viên công ty đánh giá có mức độ ảnh hưởng "rất nhiều" cao nhất?
Theo kết quả điều tra trắc nghiệm 15 nhân sự tại Bảng 2.5, rủi ro máy móc thiết bị có tỷ lệ đánh giá ảnh hưởng "rất nhiều" cao nhất (chiếm 66,7% với 10/15 phiếu), tiếp theo là rủi ro chậm tiến độ công trình (chiếm 53,3% với 8/15 phiếu).
5. Mục tiêu cắt giảm chi phí trong chiến lược phát triển giai đoạn 2013 – 2018 của công ty được xác định ra sao?
Hội đồng quản trị công ty đặt mục tiêu giảm chi phí trong quản lý và kinh doanh năm 2013 là 8%, các năm tiếp theo trong giai đoạn đến năm 2018 mỗi năm tiếp tục cắt giảm thêm 1%.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Văn Đô đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị rủi ro và phản ánh chân thực thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Nhà và Đô thị mới Hà Nội giai đoạn 2010 – 2013. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích báo cáo tài chính và điều tra khảo sát sơ cấp, nghiên cứu đã làm rõ những bất cập trong quy trình nhận dạng, đo lường và kiểm soát rủi ro tại đơn vị. Các đề xuất hoàn thiện và mục tiêu cắt giảm chi phí quản lý trong giai đoạn 2013 – 2018 có tính ứng dụng thực tiễn cao đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cũng như các doanh nghiệp xây dựng có quy mô tương đương.