CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Khái niệm về suy thoái kinh tế, suy thoái kinh tế toàn cầu. Suy thoái kinh tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của các trường phái khác nhau: Trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được định nghĩa: “Suy thoái kinh tế là sự suy giảm lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm trong vòng hai quý liên tiếp trở lên trong một năm”.
Theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Hoa Kỳ cho rằng: “Suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”. Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như : việc làm, đầu tư và lợi nhuận của doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại, tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kỳ lạm phát. Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế.
Sự tan vỡ tàn phá kinh tế gọi là sự suy sụp, đổ vỡ kinh tế. Việc suy giảm kinh tế của nhiều quốc gia trong cùng một thời điểm dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới. Khái niệm hoạt động kinh doanh. Hiện nay có rất nhiều khái niệm hoạt động kinh doanh, nhưng theo góc độ pháp lý thì hoạt động kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng sản phẩm nhằm mục đích sinh lợi (theo khoản 2 điều 4 luật doanh nghiệp 2005).
Hoạt động kinh doanh trong một số trường hợp được hiểu như hoạt động thương mại, (theo khoản 1 điều 3 luật thương mại 2005) hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Một số lý thuyết về suy thoái kinh tế và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Lý thuyết về suy thoái kinh tế 1. Chu kỳ phát triển kinh tế Chu kỳ hinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chu kỳ phát triển kinh tế (Nguồn: http://vi.org/wiki/Chu_kỳ_kinh_tế) Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm trong hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái.
Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ. Hưng thịnh: là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
Các biểu hiện của suy thoái kinh tế. - Tốc độ tăng trưởng chậm lại, tổng sản phẩm quốc dân giảm liên tiếp qua các năm - Sức mua của thị trường giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng cắt giảm và kết quả là GDP thực tế tiếp tục giảm sút. - Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, nhu cầu về lao động giảm, sản xuất đình trệ, đầu tư bị hạn chế, cắt giảm nhân công lao động.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn suy thoái kinh tế. - Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh, do nhu cầu giảm làm cho hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được. Ngân hàng bị ảnh hưởng và khắt khe trong việc cho vay vốn làm cho các doanh nghiệp khó khăn trong vốn kinh doanh, hàng hóa khó tiêu thụ dẫn đến quay vòng vốn chậm.
- Các hoạt động đầu tư ngưng trệ và chỉ mang tính chất cầm chừng. Sơ lược về các cuộc suy thoái kinh tế trong lịch sử. Khủng hoảng trong thị trường chứng khoán năm 1836-1837 đã bao phủ những quốc gia Anh, Đức, Hà Lan, gắn bó với những vốn đầu tư vô căn cứ được góp vào sự phát triển của những đường xe lửa. Và kết quả là toàn bộ hệ thống ngân hàng những nước đó bị tổn thương nghiêm trọng.
Vào năm 1857 một trong những khủng hoảng có quy mô lớn nhất thế kỷ 19 bùng nổ.những công ty đường xe lửa bị phá sản hoàn toàn đẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng quốc gia nhiều nước, rồi đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng toàn Châu Âu. Vào năm 1914 khủng hoảng tài chính tiếp theo bùng lên. Nhà nước Mỹ và phần lớn những nước Châu Âu đã bán tống bán tháo ngân phiếu nhiều quốc gia khác để cung cấp cho những hoạt động quân sự của nước mình.Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới hoàn toàn là khủng hoảng kinh tế.thời kỳ đình trệ năm 1920 1922 và giai đoạn 4 tháng 10 năm 1929 (thứ năm đen), ở thị trường chứng khoán Newyork giá chứng khoán giảm 60- 70%. Cùng lúc đó, nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của mỹ đã sụp đổ nhanh chóng.
Đến cuối tháng những người giữ cổ phiếu bị mất hơn 15 tỷ USD, còn đến cuối năm giá chứng khoán sụt xuống 40 tỷ USD - số tiền khổng lồ vào thời điểm đó. Ngay tiếp sau đó, khủng hoảng bùng lên cả ở Châu Âu.Vào năm 1933, ở các nước phát triển có tới hơn 30 triệu người chính thức không có việc làm. Khủng hoảng năm 1957-1958 lan tràn ra Mỹ, Canada và những nước Tây Âu. Sản xuất công nghiệp thế giới giảm đi 4%.
Kinh tế Mỹ vào năm 1973-1974 bị thu hẹp lại và giống như ở thời kỳ đình đốn vĩ đại. Khủng hoảng bao trùm toàn bộ Châu Âu, ở Anh giá chứng khoán giảm đi 56%.Tình hình còn trầm trọng thêm vì khủng hoảng dầu tăng từ 3 lên thành 12 USD. Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008 là xuất phát điểm của suy thoái toàn cầu hiện nay.Khủng hoảng tại Mỹ bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tín dụng và nhà đất ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng làm đổ vỡ hệ thống ngân hàng, các ngân hàng nhỏ và trung bình ở Mỹ bị phá sản nhiều.
Tháng 8/2008, tình trạng này đã lan sang các ngân hàng có tầm ảnh hưởng lớn trong hệ thống tài chính toàn cầu. Freddie Mac và Frannie Mae là hai tập 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoàn cho vay thế chấp khổng lồ của Mỹ. Nếu hai tập đoàn này sụp đổ thì hệ thống tài chính toàn cầu sẽ rơi vào một cú sốc lớn.Vì thế, để tạm thời ngăn chặn sự việc này, ngày 7/9/2008, Chính phủ Mỹ đã phải bỏ ra 25 tỷ USD để tiếp quản hai tập đoàn này. Ngày 15 tháng 9 năm 2008 tập đoàn tài chính lớn của Mỹ Lehman Brothers Holdings tuyên bố phá sản, Merill Lynch sáp nhập với Bank of America với giá 50 tỷ USD trở thành tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính lớn nhất thế giới.
Tập đoàn AIG đứng trước nguy cơ phá sản, FED đã cho AIG vay 85 tỷ USD trong vòng 2 năm và đổi lại Chính phủ Mỹ sẽ nắm 80% cổ phần và thay đổi ban lãnh đạo. Năm 2008, giá cổ phiếu của tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới Citigroup giảm gần 87% gái trị, ngân hàng này đã phải bán đi một số cơ sở cùng một số nguồn lực khác, cắt giảm 52000 việc làm, tương đương với 20% nhân viên của tập đoàn. Việc này đã khiến cho thị trường chứng khoán thế giới sụt giảm tới mức thấp nhất trong hàng thập kỷ qua.Cuộc khủng hoảng đã làm cho 25 ngân hàng Mỹ bị giải thể trong năm 2008. Cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ riêng ở Mỹ mà nó đã nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu.
Ủy ban châu Âu cũng đã thừa nhận nền kinh tế 15 nước sử dụng chung đồng tiền Euro đã bước vào đợt suy thoái. Các ngân hàng Anh chịu ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ. Nối tiếp ngân hàng của Anh là một số ngân hàng lớn khác tại Châu Âu như Fortis của Bỉ và Dexia của Pháp. Tại Nga, hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, chứng khoán cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Tính đến ngày 7 tháng 10 năm 2008, thị trường chứng khoán nga đã 2 lần tạm thời đóng cửa và chỉ số chứng khoán giảm mạnh. Cuộc khủng hoảng tài chính cũng lan tỏa ra khu vực Châu Á làm suy giảm kinh tế của các nước thuộc khu vực này. Nguyên nhân của suy thoái kinh tế. Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến suy thoái kinh tế, nhưng chung quy lại có bốn nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái là: Thứ nhất, Sự hình thành và đổ vỡ của bong bong nhà đất, các khoản cho vay dưới chuẩn. Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm cho bong bóng nhà đất được hình thành.Khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản đầy rủi ro cung cấp cho thị trường. Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo.