MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập Khoảng 10 năm gần đây, một sự bứt phá của ngành chăn nuôi là có sự chuyển đổi từ chăn nuôi tự cung, tự cấp, nhỏ lẻ phân tán sang chăn nuôi trang trại tập trung, tiếp cận dần tới công nghiệp hóa chăn nuôi. Đây có thể coi là bước đột phá mới trong phát triển của ngành chăn nuôi. Chăn nuôi trang trại (TT) phát triển sẽ đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng nhiều và đa dạng của nhân dân về sản phẩm chăn nuôi, nâng cao tính cạnh tranh về năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi, tăng cường khả năng tiếp thu công nghệ, tiến bộ khoa học mới, là nhân tố sức mạnh thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH).
Chăn nuôi theo quy mô trang trại đã và đang là xu hướng phát triển tất yếu của ngành chăn nuôi. Bởi vì chăn nuôi trang trại mới cho được số lượng sản phẩm lớn, mới đủ khả năng và thông số mẫu đủ lớn để áp dụng các tiến bộ khoa học, các công nghệ phục vụ chăn nuôi cao sản, kiểm soát dịch bệnh dễ dàng hơn so với chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ. Từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi hàng hóa trên thị trường. Phát triển kinh tế trang trại nhằm sử dụng hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo, phân bổ lại lao động dân cư, xây dựng nông thôn mới [6].
Ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và ở thị xã Phổ Yên nói riêng thì trong những năm gần đây các trang trại chăn nuôi lợn đang từng bước phát triển và c 2 khẳng định được vị trí của mình trong sự phát triển của một nền sản xuất nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH. Ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình TT, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế. Chăn nuôi lợn TT là một trong những loại hình kinh tế trang trại (KTTT) chiếm tỉ trọng tương đối lớn và có xu hướng phát triển ngày càng mạnh trên phạm vi cả nước, nó không chỉ liên quan đến khía cạnh kỹ thuật mà nó còn liên quan đến khía cạnh quản lý. Khi một trang trại được xây dựng thì sẽ cần chú ý tới các vấn đề về công tác quản lý: Quản lý cám, thuốc; quản lý các trang thiết bị và quản lý chất thải môi trường.
Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu công tác tổ chức sản xuất tại trang trại Thanh Hồng – phường Bắc Sơn – thị xã Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên” nhằm biết được công tác tổ chức sản xuất của TT và đề ra phương hướng phát triển cho TT trong những năm tới. Mục tiêu cụ thể - Về chuyên môn + Đánh giá được thực trạng phát triển KTTT của TT Thanh Hồng. + Tìm hiểu các hoạt động sản xuất của TT Thanh Hồng để biết được những khó khăn mà TT gặp phải để từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp để khắc phục. + Phân tích SWOT của TT Thanh Hồng.
+ Tìm hiểu các hình thức tổ chức và quản lý của TT Thanh Hồng. - Về thái độ + Luôn vui vẻ, hòa đồng với mọi người. + Nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. + Tuân thủ theo các quy định của trang trại đề ra.
c 3 - Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc + Hoàn thành tốt các công việc được giao. + Linh hoạt và sáng tạo trong công việc. + Rèn luyện kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất trong TT. + Tích cực học hỏi kinh nghiệm làm việc từ mọi người xung quanh.
Nội dung và phương pháp thực hiện 1. Nội dung thực tập - Tìm hiểu công tác tổ chức sản xuất và công tác quản lý của TT Thanh Hồng – phường Bắc Sơn – thị xã Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên. - Tìm hiểu chuỗi giá trị theo hình thức chăn nuôi gia công. - Tìm hiểu hiệu quả sản xuất của TT Thanh Hồng khi tham gia chăn nuôi gia công.
- Phân tích SWOT của TT Thanh Hồng. - Đưa ra các đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho TT Thanh Hồng trong những năm tới năm tới. Phương pháp thực hiện 1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu Các số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp có liên quan đến nội dung nghiên cứu sẽ được điều tra thu thập trong quá trình thực hiện đề tài.
Thu thập số liệu thứ cấp + Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu có sẵn thường có trong các báo cáo khuyến nông hoặc các tài liệu đã công bố. Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng. + Trong đề tài sử dụng các tài liệu và số liệu đã được công bố trên các trang web, sách, báo, tạp chí,… và báo cáo của địa phương. Thu thập số liệu sơ cấp c 4 + Quan sát trực tiếp: Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật, sự kiện với các mối quan hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó.
Quan sát trực tiếp cũng là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời mình thu được khi phỏng vấn. Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thực trạng sản xuất của TT. + Phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp chủ trại và cán bộ kỹ thuật bằng bộ câu hỏi có sẵn để tìm hiểu về công tác tổ chức, các hoạt động sản xuất, những thuận lợi và khó khăn của TT, mối liên hệ giữa TT và công ty RTD. + Phương pháp tiếp cận có sự tham gia: Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của TT như: Dọn dẹp, vệ sinh chuồng nuôi, chăm sóc lợn, kiểm cám, kiểm thuốc,.
Từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà TT gặp phải trong quá trình phòng dịch cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của TT. + Phương pháp thảo luận: Cùng với chủ TT, cán bộ kỹ thuật thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại TT đang gặp phải như: Vốn, lao động, chính sách của nhà nước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của TT trong những năm tới. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu - Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được nhập và xử lý trên phần mềm Excel sau đó được biểu diễn qua các bảng biểu và hình. - Phương pháp so sánh và phân tích để thấy được hiệu quả và thành tựu của trang trại Thanh Hồng trong những năm gần đây.
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất - Giá trị sản xuất (GO): Là giá trị bằng tiền của sản phẩm sản xuất ra bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và phần giá trị bán ra thị trường sau c 5 một chu kì sản xuất thường là một năm. Được tính bằng sản lượng của sản phẩm đó nhân với đơn giá sản phẩm. Công thức tính: GO = ∑ Pi.Qi Trong đó: GO là giá trị sản xuất Pi là đơn giá sản phẩm loại i Qi là sản lượng sản phẩm loại i - Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các chi phí thường xuyên về vật chất như các khoản chi phí về giống, thức ăn,. Và các khoản chi phí vật chất khác không kể khấu hao TSCĐ.
Công thức tính: IC = ∑ Cij Trong đó: IC là chi phí trung gian Cij : là chi phí thứ i cho sản phẩm thứ j - Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị của lao động thuê và vật chất tăng thêm trong quá trình sản xuất. Công thức tính: VA = GO – IC Trong đó: VA là giá trị gia tăng GO là giá trị sản xuất IC là chi phí trung gian - Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất + VA/IC + GO/IC + GPr/IC + NPr/IC c 6 - Phương pháp trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng Công thức: Nguyên giá tài sản cố định Mức trích khấu hao hàng năm = Thời gian trích khấu hao Thời gian trích khấu hao theo quy định tại khung thời gian sử dụng các loại TSCĐ [4]. Thời gian và địa điểm thực tập - Thời gian: Từ ngày 20/8/2016 đến ngày 20/12/2016 - Địa điểm: Trang trại Thanh Hồng – phường Bắc Sơn – thị xã Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên. c 7 Phần 2 TỔNG QUAN 2.
Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập 2. Trang trại và kinh tế trang trại Trang trại (TT) là một loại hình sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, được hình thành và phát triển từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dần thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Ngày nay, TT là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới [8]. Cơ sở chăn nuôi đạt tiêu chí trang trại là cơ sở đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỉ đồng/năm trở lên [2].
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường [7]. Như vậy, có thể nói rằng trang trại là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích đủ lớn với quy mô gia đình là chủ yếu để tạo ra sản phẩm hàng hoá cung cấp cho xã hội phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường. Có 2 nhóm đối tượng có thể tham gia đầu tư sản xuất theo mô hình TT, đó là hộ nông dân, hộ công nhân viên nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại hộ thành thị (gọi chung là hộ gia đình) và cá nhân [1].
Trang trại gồm có trang trại gia đình và trang trại gia công: c 8 - Trang trại gia đình: Là toàn bộ tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình, hộ gia đình là người quyết định tổ chức và sản xuất kinh doanh.