phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3 chương. Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác thu hút vốn FDI giai đoạn 2001 – 2005. Đảng bộ TP.
Hồ Chí Minh lãnh đạo đẩy mạnh công tác thu hút vốn FDI giai đoạn 2006 – 2010. Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: ĐẢNG BỘ TP. HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THU HÚT VỐN FDI GIAI ĐOẠN 2001 – 2005.
Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và thực trạng thu hút vốn FDI của TP. Hồ Chí Minh trƣớc năm 2001.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của bất kì địa phương nào cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các nhà đầu tư. Các nhân tố này không chủ tác động đến quy mô mà còn quy định một số đặc điểm của hoạt động đầu tư tại các địa phương.
Vì vậy, nghiên cứu cơ sở thực tiễn tại địa phương để Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh hoạch định đường lối thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một điều cần thiết. Khái quát điều kiện tự nhiên của TP. Hồ Chí Minh TP. Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tây và tây nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
Nằm ở miền nam Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ Biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, TP. Hồ Chí Minh là hạt nhân trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm đối với vùng Nam Bộ.
Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Địa hình TP. Hồ Chí Minh tương đối bằng phẳng, có độ dốc nhỏ theo hướng tây bắc – đông nam, thuận tiện cho việc di chuyển. Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, TP.
Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch đa dạng tạo điều kiện thuận lợi về việc di chuyển và khai thác các loại hình du lịch đối với các nhà đầu tư. [ 46; tr 9] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội. Về cơ sở hạ tầng: Là một trong hai trung tâm truyền thông của cả nước, TP. Hồ Chí Minh hiện nay có 38 đơn vị báo chí và 113 nhà xuất bản.
Với hệ thống thông tin liên lạc rất phát triển với nhiều mạng điện thoại ra đời như mobiphone, vinaphone, viettel,. tạo nên mạng lưới thông tin rộng khắp với giá cả hợp lý và chất lượng tốt đã đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Dịch vụ bưu điện và đường truyền internet phát triển rộng khắp đã đáp ứng đươc nhu cầu trao đổi thông tin và kết nối bạn bè trong và ngoài nước. Hệ thống giao thông đô thị của TP.
Hồ Chí Minh cũng phát triển mạnh mẽ bao gồm: hệ thống giao thông đường bộ với nhiều trục đường lớn tỏa ra nhiều hướng trong thành phố, một số tuyến đường hiện đại có ý nghĩa to lớn với sự phát triển của TP. Hồ Chí Minh nói riêng cũng như khu vực phía Nam nói chung như đại lộ Nguyễn Văn Linh, cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Trung Lương và hệ thống đường nối với trục đường xuyên Á. Còn về đường sắt, thành phố chính là điểm cuối của tuyến đường sắt Bắc –Nam, với các nhà ga chuyên dụng cho vận tải hàng hóa và hành khách.
Hệ thống đường hàng không với cảng hàng không Tân Sơn Nhất là một trong những cảng hàng không lớn của cả nước cùng với hệ thống giao thông đường thủy với cảng Sài Gòn có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Với 8 cảng biển và 4 cảng đường sông bao gồm 31 cầu cảng biển và 7 cầu cảng đường sông trong đó có nhiều cảng lớn như Cảng Sài Gòn, cảng Tân Thuận, Tân Cảng,. thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa trực tiếp của thành phố cũng như đầu mối trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của các tỉnh lân cận. Giao thông thuận lợi là một trong những điều giúp TP.
Hồ Chí Minh thu hút được nhiều những nhà đầu tư đến đầu tư làm ăn và quyết định mở hầu bao đầu tư vào các ngành ưu tiên của thành phố. [45; tr 21] Về các khu công nghiệp, khu chế xuất: Hiện nay, TP. Hồ Chí Minh có tất cả 13 KCN và KCX đi vào hoạt động. Trong đó phải kể đến như : KCX TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Linh Trung (Thủ Đức), KCX Tân Thuận (Quận 7), KCN Tân Tạo (Bình Chánh), KCN Hiệp Phước ( Nhà Bè), KCN Bình Chiểu (Thủ Đức), KCN Cát Lái 4 (Quận 2), KCN Vĩnh Lộc (Bình Chánh), KCN Lê Minh Xuân (Bình Chánh), KCN Tân Thới Hiệp (Quận 12), KCN Tân Bình (Tân Bình), KCN Tây Bắc Củ Chi (Củ Chi), KCN Phong Phú ( Bình Chánh), KCN Tân Phú Trung (Tân Phú).
[ 68] Về dân số: TP. Hồ Chí Minh là địa phương có dân số đông nhất cả nước. Theo Cục Thống Kê TP. Hồ Chí Minh tính đến năm 2005 là 6.398 người với mật độ 2.980 người/ km2, Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê ngày 1/4/2010, dân số thành phố là 7.287 người , Theo số liệu của Cục Thống kê TP.
Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm 2010 là 7.446 người, mật độ 3.531 người/km2[ 47; tr 9] Về giáo dục và đào tạo: Trong năm học 2008–2009, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục mầm non, 467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III. Ngoài ra, theo con số từ 1994, TP. Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập, tư thục Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố. Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Các trường ngoại ngữ ở TP. Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạyquốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư. Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đại học công lập (Trường đại học Sài Gòn và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý.
Là thành phố lớn nhất Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh với 6 trường đại học thành viên.
Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Kinh tế. đều là các đại học quan trọng của Việt Nam. Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia. Đây là một trong những lợi thế quan trọng của TP.
Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực cao phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Tình hình phát triển kinh tế nói chung của TP. Hồ Chí Minh: Sau hơn 15 năm đổi mới, hiện trạng kinh tế của thành phố cũng ngày càng thay đổi căn bản. Tính ra bình quân 5 năm từ 1996 đến 2000, tốc độ tăng trưởng của TP.
Hồ Chí Minh cũng duy trì ở mức 10. Như vậy, bình quân mỗi năm tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 11.4% cao hơn cả nước gấp 1. Nền kinh tế của TP. Hồ Chí Minh chủ yếu dựa vào công nghiệp và dịch vụ.
Giá trị gia tăng khu vực công nghiệp và xây dựng luôn có tốc độ tăng nhanh nhất, bình quân giai đoạn 1996-2000 là 13.2%/ năm, tiếp đến là khu vực dịch vụ với tốc độ tăng giá trị bình quân là 8. Trong cùng giai đoạn, giá trị khu vực nông nghiệp và thủy sản là 1. Tỷ lệ tăng của giai đoạn 1996-2000 khác với giai đoạn 1991-1995. Trong giai đoạn 1991- 1995, tỷ trọng công nghiệp –xây dựng giảm từ 40.9% năm 1995, còn dịch vụ tăng từ 54.
[130, tr 24] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 : Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế giai đoạn 1991-2000 (Đvt:%) 1991 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Nông 4,6 3,3 2,9 2,6 2,4 2,3 2,2 nghiệp Công nghiệp- 40,6 38,9 140,1 41 42,5 42,9 44,2 xây dựng Dịch vụ 54,8 57,8 57 56,4 55,1 54,8 53,6 Nguồn: Niêm giám Thống kê 2000 Bảng 1.2 : Đóng góp của khu vực kinh tế vào tăng trưởng GDP (%) 1991- 1996 1997 1998 1999 2000 1995 Tăng trƣởng 12,6 14,7 12,1 9,0 6,2 9,0 GDP Trong đó Nông 0,1 0,1 0,0 -0,1 0,1 0,0 nghiệp Công 5,8 6,9 5,7 5,3 3,3 5,6 nghiệp Dịch vụ 6,7 7,7 6,4 3,8 2,8 3,4 Nguồn: Niêm giám Thống kê 2000 Với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển và hơn 30 năm sau ngày giải phóng, từ một thành phố với nền kinh tế còn què quặt và yếu kém TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã vươn lên trở thành đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Đảng và Nhà nước ta đã xác định việc thúc đẩy phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mà TP. Hồ Chí Minh là hạt nhân. Sau ngày giải phóng đến trước khi có Nghị quyết 16 NQ/TW ban hành ngày 10/8/2012, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã có 2 Nghị quyết quan trọng về TP.
Hồ Chí Minh vào năm 1982 (khóa V) khẳng định “ Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chính trị quan trọng sau Thủ đô Hà Nội”.