CHƯƠNG 1 NHỮNG QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG LỚN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HIỆN NAY 1. Về phát triển kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước 1. KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam 1. Quan điểm về phát triển KTTT định hướng XHCN 6 Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng CNXH.
Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng CNXH, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa XHCN trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường. Đại hội IX của Đảng (2001) đã chính thức đưa ra khái niệm "KTTT định hướng XHCN". Đại hội khẳng định: Phát triển KTTT định hướng XHCN là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. [1, Tr 12-13 ] Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của K i 11' vừa dựa trên cơ sở và được chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối.
Nói cách khác, KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vãn minh. Đặc trưng của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển KTTT thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, đưa ra chủ trương phát triển nền KĨTT định hướng XHCN. Lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN không phải đơn giản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh nhằm mục tiêu từng bước đi lên CNXH. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này rút ngắn được con đường đi của mình tới CNXH trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế được những khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị 7 trường.
Đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng K rrr, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước XHCN, phát triển nguồn nhân lực, mở cửa và hội nhập nhằm thúc đẩy quá trình CNH-HĐH đất nước. [4, Tr 32- 33 ] Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là hai nhân tố chính trị căn bản bảo đảm sự thành công của đường lối phát triển nền KTTT định hướng XHCN và quá độ đi lên CNXH ở nước ta. Hai nhân tố này thể hiện tính tự giác, khắc phục tính tự phát của KTTT và mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế đang do chủ nghĩa tư bản chi phối, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của KTTT để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.
Đây là nền KTTT có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước XHCN, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước. Về hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam 1. Quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế Đại hội lần thứ VIII của Đảng (1996) đã xác định nhiệm vụ "mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế". Đại hội lần thứ IX (2001) khẳng định chủ trương "phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ 8 nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vũng".
Nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế mà nước ta cần và có thể tham gia từng bước là mở cửa thị trường về thương mại, đầu tư và dịch vụ. Hội nhập kinh tế có cả hình thức đa phương và song phương, vừa tham gia các tổ chức và diễn đàn kinh tế thế giới và khu vực, vừa thiết lập quan hệ thương mại, đầu tư với từng nước. Cụ thể hóa đường lối về hội nhập kinh tế được đề ra tại Đại hội toàn quốc lần thứ vin và lần thứ IX của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết riêng về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 07/NQ-TW ngày 27/11/2001 là: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập chủ quyền và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc vãn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường".
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng chính là nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đáp ứng yêu cầu và lợi ích cùa quốc gia, đồng thời thông qua hội nhập kinh tế quốc tế để phát huy vai trò và tiềm năng của nước ta trong quá trình hợp tác và phát triển cùa khu vực và thế giới, tranh thủ các nguồn vốn, thành tựu khoa học - công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, tăng cường quan hệ hợp tác cùng có lợi, làm cho nước ta phát triển ngày càng nhanh và bền vững hơn. Đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Nguyên tắc cơ bản và bao trùm trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là bảo đảm giữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn giá trị truyền thôhg và bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ và cải thiện môi trường. Thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, bảo đảm lợi ích của đất nước, giữ vững độc lập tự chủ và sự cân bằng trong các mối quan hệ, tránh sự lệ thuộc một chiều vào một hoặc một số đối tác. [2, Tr 15-16] 9 Trong hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chỉ rõ: Phải vững phương châm chủ động, vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo, nhằm bảo vệ được lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tranh thủ được các thời cơ thuận lợi trong hội nhập.
Trong bất cứ tình huống nào cũng phải luôn luôn chủ động, giành thế chủ động, chủ động ngay từ chủ trương, quyết sách, nội dung, phạm vi, mức độ, lộ trình.; thường xuyên đề cao cảnh giác, không mơ hồ trước những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch muốn lợi dụng quan hệ kinh tế thương mại để thực hiện "diễn biến hòa bình", xâm nhập, phá hoại chế độ ta. Đặc điểm phát triển KTTT của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Toàn cầu hóa mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế, là một xu thế khách quan ưọng thế giới ngày nay. Đối vái các nước kém phát triển như Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế còn là con đường tốt nhất để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước khác và giữ vững hướng đi đã chọn của chính mình. Nền KTTT định hướng XHCN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau đây: - Đặc điểm thứ nhất là KTTT định hướng XHCN của Việt Nam xuất phát từ một trình độ thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và thế giới.
Do vậy, trong hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế Việt Nam sẽ gặp phải những trở ngại không nhỏ: Sự đổ vỡ, phá sản của một bộ phận đáng kể trong số các DN là không thể ưánh khỏi khi hàng rào bảo hộ bằng thuế được dỡ bỏ. Đương nhiên trong quan hệ có tính hai chiều của hội nhập kinh tế quốc tế, một bộ phận đáng kể trong nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm những cơ hội để tăng sức cạnh tranh ngay tại thị trường của những nước phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế cần được coi là bước phát triển tất yếu, là vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với chính nền KITT định hướng XHCN. [20, Tr 22-23 ] - Đặc điểm thứ hai là trình độ khoa học-công nghệ của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thuộc loại thấp so với hầu hết các đối tác.
Đất nước 10 mới chỉ đang ở thời kỳ đầu của quá ưình CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân. Khó khăn trở nên lớn hơn nhiều khi quan hê hợp tác kinh tế với các đối tác quốc tế có trình độ phát triển cao hơn gấp bội. Những khó khăn đó đang tăng lên trong bối cảnh phát triển ngày càng nhanh của "công nghệ số" với loại hình công nghệ này, lợi thế phần nhiều thuộc về các chủ thể muốn duy trì sự kiểm soát, khống chế và bất lợi cho các chủ thể muốn được tiếp nhận, chuyển giao. [56, Tr 32-33 ] - Đặc điểm thứ ba là về mục tiêu phát triển của nền KTTT định hướng XHCN trong khi tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế.