mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban quản trị đồn điền cao su Dầu Tiếng nhanh chóng thành lập một đội quân gần trăm người gồm công nhân và tự vệ các xã Thanh An, Thanh Tuyền, Định Thành kéo về Sài Gòn tham gia chiến đấu tại Mặt trận cầu Bến Phấn - Gò Vấp. Lực lượng tự vệ và công nhân Dầu Tiếng đã anh dũng chiến đấu cùng với quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định bao vây chặt quân địch trong thành phố suốt một tháng đầu của cuộc chiến. Ngày 25 - 10 - 1945, được quân Anh giúp sức, quân Pháp tiến đánh Thủ Dầu Một.
Sau khi chiếm được tỉnh lỵ, Pháp tiến chiếm những cứ điểm quân sự như Thành Săn Đá, Thành Quan, Tòa Hành chính tỉnh… Tiếp đó, chúng hành quân tiến đánh các quận phía Bắc và phía Nam tỉnh Thủ Dầu Một. Ở Dầu Tiếng, toàn thể nhân dân và các lực lượng kháng chiến gấp rút chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu ngăn chặn quân Pháp tái chiếm đồn điền. Nhân dân được lệnh thực hiện kế hoạch “Vườn không, nhà trống” và thực hiện khẩu hiệu bốn không: “Không hợp tác với Pháp; Không đi lính cho Pháp; Không chỉ đường cho Pháp; Không mua bán với Pháp”. ỞDầu Tiếng, theo chủ trương của Đảng bộ, chính quyền mới ở Dầu Tiếng và các cơ sở, các đoàn thể Phụ nữ, Nông dân, Phụ lão, Thanh niên Tiền phong được thành lập trong Tổng khởi nghĩa chuyển đổi thành các đoàn thể cứu quốc dưới sự chỉ đạo thống nhất trực tiếp của Mặt trận Việt Minh.
Đây là tổ chức quần chúng đầu tiên của chính quyền mới để tập hợp mọi tầng lớp nhân dân tham gia 17 vào công cuộc xây dựng chính quyền mới, tăng gia sản xuất, ổn định cuộc sống, bảo vệ trị an, “chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Yêu cầu đặt ra cấp bách là phải tổ chức và xây dựng ngay lực lượng vũ trang để bảo vệ chính quyền cách mạng. Trên cơ sở các tổ chức vũ trang trong khởi nghĩa và sự tập hợp lực lượng tự nguyện đông đảo của công nhân, nông dân, các đội tự vệ vũ trang từ huyện đến các làng, xã lần lượt được thành lập. Ở huyện, Ủy ban hành chính chỉ đạo thành lập ngay 1 trung đội vũ trang tập trung, 1 tiểu đội Quốc gia tự vệ.
Tuy mới thành lập, vũ khí trang bị còn thô sơ, nhưng các cán bộ, chiến sĩ vẫn tràn đầy tinh thần cách mạng và giàu lòng yêu nước. Là lực lượng nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang của huyện, đồng thời góp phần xây dựng lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh sau này. Ởcác làng, xã, trên cơ sở các đội Thanh niên Tiền phong, chính quyền cách mạng tổ chức lại thành các đội tự vệ làm nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cơ sở, tuần tra canh gác, giữ gìn trật tự trị an ở mỗi làng, xã. Ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, Ban quản trị đồn điền cùng chính quyền nhanh chóng thành lập Đội cảm tử thu hút hàng trăm thanh niên trong các làng công nhân tham gia.
Các lực lượng vũ trang địa phương tích cực luyện tập quân sự, tuần tra bảo vệ làng, xã, đồn điền. Tin thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn hình thành các mặt trận đánh Pháp thôi thúc quân và dân huyện Dầu Tiếng một lần nữa đứng lên gia nhập đội quân chiến đấu để giữ vững nền độc lập vừa mới giành được. Sau khi Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thủ Dầu Một ra lời kêu gọi, Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Dầu Tiếng đã chỉ đạo các xã kêu gọi trận Sài Gòn, hàng trăm Thanh niên Cứu quốc cùng các đội Thanh niên Tiền phong nhanh chóng gia nhập lực lượng vũ trang huyện, ở khắp các xã đều thành lập các đội tự vệ. Tại đồn điền cao su Dầu Tiếng, Ban quản trị đồn điền thành lập 1 đội vũ trang công nhân gần 100 người.
Cùng với hoạt động kiến quốc của nhân dân, Ủy ban hành chính huyện cũng khẩn trương củng cố các đơn vị vũ trang chiến đấu. Lực lượng tự vệ huyện được biên chế thành 5 đơn vị chiến đấu, được gọi theo phiên hiệu từ 1 đến 5. Mỗi 18 đơn vị có 3 phân đội, mỗi phân đội có 3 tiểu đội. Hằng ngày, tự vệ các làng xã và lực lượng vũ trang huyện tích cực luyện tập quân sự, chuẩn bị vũ khí, chuẩn bị phương án chiến đấu ngăn chặn địch lấn chiếm.
Sau khi chiếm được Bến Cát, trung tuần tháng 12 - 1945, quân Pháp mở cuộc hành quân đánh chiếm Dầu Tiếng. Trước khi quân Pháp đánh chiếm lên Dầu Tiếng, Ủy ban kháng chiến các xã Thanh Tuyền, Thanh An đã tiến hành vận động nhân dân tản cư vào những vùng rừng xa cách đường giao thông, hoặc vào những ấp trong vùng sâu mà quân Pháp chưa thể chiếm được như Đường Long, Cà Tong. Đây là các vùng rừng cây rậm rạp, vừa xa các thị tứ, thị trấn; lực lượng kháng chiến các xã Thanh Tuyền, Thanh An dựa vào thế rừng để xây dựng và phát triển thành các căn cứ, xây dựng làng chiến đấu làm hậu phương cho cuộc kháng chiến của nhân dân địa phương. Cuộc chiến đấu của nhân dân Dầu Tiếng diễn ra quyết liệt trong suốt ngày 29 – 12 – 1945.
Nhưng trước sự tấn công ồ ạt của giặc, quân ta lực lượng ít, thiếu vũ khí và chưa có kinh nghiệm chiến đấu nên phải rút về Bàu Sen, Bàu Sinh, Núi Cậu để bảo toàn lực lượng. Đến chiều ngày 29 - 12 - 1945, quân Pháp chiếm được xã Thanh Tuyền, Thanh An và thị trấn Dầu Tiếng. Để đẩy mạnh phong trào toàn dân kháng chiến, Ban cán sự Đảng huyện Bến Cát đã chỉ đạo cho các xã đưa cán bộ nòng cốt, bí mật bám cơ sở trong các thôn ấp, đồn điền cao su tổ chức lại các đoàn thể cách mạng, từng bước xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng. Ở Dầu Tiếng, Ủy ban kháng chiến ở các xã Định Thành, Thanh An, Thanh Tuyền, Kiến An phân công cán bộ cùng lực lượng du kích tích cực tuyên truyền trong nhân dân chủ trương kháng chiến và vận động mọi người ủng hộ lương thực, thực phẩm để nuôi quân.
Trong hơn một năm cùng nhân dân toàn tỉnh, toàn miền tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Ban cán sự Đảng và Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Bến Cát, cán bộ, đảng viên, dân quân du kích và đồng bào Dầu Tiếng đã kiên cường chiến đấu, từng bước khắc phục khó khăn trở ngại, cùng toàn dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh theo lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. 19 Từ giữa năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta ngày càng quyết liệt trên các chiến trường. Phong trào kháng chiến của nhân dân Dầu Tiếng đang đứng trước những thử thách mới. Việc xây dựng căn cứ địa làm nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo phong trào kháng chiến của nhân dân địa phương đòi hỏi hết sức cấp bách.
Vì căn cứ kháng chiến là nơi xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, cũng là nơi xuất quân hoạt động quân sự hỗ trợ cho phong trào kháng chiến địa phương. Mặt khác, xây dựng căn cứ địa là góp phần xây dựng nền kinh tế kháng chiến ở vùng độc lập phục vụ kháng chiến trở thành một yêu cầu quan trọng. Thực hiện chủ trương của Tỉnh, từ cuối năm 1947, phong trào xây dựng căn cứ kháng chiến của quân dân Dầu Tiếng diễn ra mạnh mẽ trong toàn huyện. Trước yêu cầu của cách mạng, sau khi Ban chấp hành Đảng bộ huyện được củng cố, công tác tuyên truyền và phát triển Đảng các xã dọc theo đường giao thông như Thanh Tuyền, Thanh An, Định Thành, các xã vùng sâu như Minh Thạnh, Minh Hòa, đã chú trọng thành phần công nhân, dân quân du kích, nhất là các quần chúng xuất sắc trong các đoàn thể cách mạng như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân.
Trong năm 1947, các xã đã kết nạp được nhiều Đảng viên mới. Cuối năm 1947, nhiều xã đã thành lập được Chi bộ như Thanh An, Thanh Tuyền, Minh Thạnh, Kiến An. Phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Dầu Tiếng từ cuối năm 1947 đã phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển của lực lượng du kích, lực lượng tự vệ chiến đấu và dân quân ở các xã và các làng của đồn điền cao su Dầu Tiếng, các Chi bộ và Ủy ban Kháng chiến Hành chính các địa phương tăng cường xây dựng và củng cố các tổ chức quần chúng.
Sau khi được củng cố, cán bộ các đoàn thể đã tích cực tổ chức hoạt động, tuyên truyền động viên mọi thành viên trong xã hội tại thị trấn đến đồn điền; từ người nông dân đến công nhân cao su đều tích cực tham gia kháng chiến hoặc ủng hộ kháng chiến. Từ con gà, luống rau kháng chiến đến “Hũ gạo nuôi quân”, cuộc kháng chiến của nhân dân Dầu Tiếng ngày càng mang tính toàn dân, ngày càng tỏ rõ tính chất ấy trên một trình độ cao hơn và toàn diện, rộng lớn hơn. Đến 20 cuối năm 1947, phong trào chiến tranh nhân dân ở Dầu Tiếng - Bến Cát đã phát triển rộng khắp. ỞDầu Tiếng ngay từ đầu năm 1948, địch đưa thêm quân để giữ các tháp canh tại các làng, sở.
Ngoài lính Âu – Phi, lính Miên, lính Cao Đài, bọn biệt kích còn có hai đại đội lính Partisan do chủ đồn điền tuyển dụng. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, quân và dân Dầu Tiếng - Bến Cát đã phối hợp với lực lượng Tiểu đoàn 903 của tỉnh Thủ Dầu Một, Trung đoàn 306, Trung đoàn 311, Tiểu đoàn 303 lưu động Khu 7 hoạt động trên địa bàn, liên tục tiến công đánh phá giao thông trên đường 13, đường liên tỉnh lộ 14 đoạn Bến Súc - Dầu Tiếng, đường Minh Thạnh - Dầu Tiếng. Cuối năm 1948, giặc Pháp mở một cuộc càn quét lớn vào ấp Đường Long để triệt phá căn cứ và tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Với quyết tâm chiến đấu bảo vệ căn cứ, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Ngọc Lên, Tiểu đoàn trưởng 903, các đơn vị bộ đội huyện và du kích xã Thanh Tuyền đã sẵn sàng đánh Pháp.
Âm mưu đánh phá căn cứ kháng chiến Đường Long của địch hoàn toàn thất bại.