CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng Để đưa ra được cách hiểu về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, trước hết cần làm rõ một số khái niệm sau: Bảo vệ và phát triển rừng là gì? Khái niệm rừng: Rừng là gì ? Rừng là một quần lạc sinh địa, trong đó sinh vật rừng, đất và khí hậu tạo thành một thể thống nhất, có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau. Nó được tạo nên bởi nhiều thành phần mà cây là thành phần chính. Vậy thì tại sao rừng lại có một ảnh hưởng lớn như vậy đến cuộc sống con người? Định nghĩa về rừng theo Khoản 3, Điều 2 của Luật Lâm Nghiệp 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019): Rừng là một hệ sinh thái gồm các loài động vật rừng, thực vật rừng, nấm và vi sinh vật rừng, đất rừng và những yếu tố môi trường khác, trong hệ sinh thái này có thành phần chính là một hay số loài cây thân gỗ, nứa, tre, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật ở núi đất, núi đá, đất cát, đất ngập nước hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng có từ 0,3 ha trở lên; có độ tàn che từ 0,1 ha trở lên. Với khái niệm nêu trên, có thể chỉ ra các đặc điểm vốn có của rừng, đó là: Thứ nhất, rừng là một hệ sinh thái, mà ở đó có thành phần chính là những loài cây lâu năm thân gỗ có khả năng nguồn cung về gỗ và lâm sản ngoài gỗ, cùng những giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như: bảo tồn sự đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan và môi trường.
Thứ hai, rừng là một thể tổng hợp những mối quan hệ tác động qua lại giữa nhiều cá thể trong quần thể, giữa những quần thể trong quần xã và có sự hài hòa thống nhất giữa chúng với môi trường hoàn cảnh trong tổng hợp ấy. 7 Thứ ba, rừng luôn có sự cân bằng động với tính ổn định, tự điều hòa và tự tái sinh/ phục hồi để thích ứng với các biến đổi của hoàn cảnh cũng như các biến đổi về quy mô số lượng sinh vật. Sự hình thành các khả năng này là do kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài và kết quả của quy luật chọn lọc tự nhiên của mọi thành phần của rừng. Thứ tư, rừng có khả năng tự phục hồi / tái sinh và trao đổi cao.
Rừng có sự cân bằng đặc trưng trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng, chúng luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi năng lượng và vật chất, đồng thời nó luôn thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và không ngừng bổ sung vào đó một số chất từ những hệ sinh thái khác. Sự vận động của quá trình này nằm trong những tác động tương hỗ tuy phức tạp nhưng chúng đem lại sự ổn định bền vững hệ sinh thái rừng. Khái niệm về bảo vệ và phát triển rừng Phát triển rừng là hoạt động trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, bị thiệt hại do thiên tai hoặc do các nguyên nhân khác; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích, trữ lượng, chất lượng rừng. Bảo vệ và phát triển rừng là việc tổ chức, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, trong hoạt động quản lý nhà nước, các chủ thể quản lý tiến hành hoạch định và ban hành chính sách, pháp luật có hiệu lực; thông qua đó sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý chính để đạt đến mục tiêu và yêu cầu bảo vệ, phát triển rừng mà Nhà nước vạch ra. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng là hoạt động đa dạng và phức tạp. Để điều khiển, chỉ đạo các hành vi xã hội trong lĩnh vực này phải đặt trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác nhằm huy động sức mạnh vật chất của cộng đồng để đạt được mục đích bảo vệ rừng của nhà nước. Quản lý nhà nước ở lĩnh vực bảo vệ rừng có các nội dung chủ yếu dưới đây: 8 - Ban hành và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ rừng; Tổ chức hoạt động điều tra để xác định ranh giới mọi loại rừng trên thực địa và trên bản đồ; Giám sát, thanh kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng; - Tổ chức, quản lý các hoạt động bảo vệ hệ sinh thái rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, phòng trừ các sinh vật gây hại rừng; quản lý các hoạt động kinh doanh, vận chuyển, xuất - nhập khẩu, tạm xuất tái nhập, tạm nhập tái xuất, quá cảnh động vật rừng và thực vật rừng.
- Quản lý các hoạt động giao rừng, cho thuê rừng và thu hồi rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, quản lý tổ chức đăng ký sở hữu và quyền sử dụng rừng. Hợp tác quốc tế ở lĩnh vực bảo vệ rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học và kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế về những loài động thực vật rừng; - Bảo đảm những điều kiện vật chất và những cân đối khác để đảm bảo phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước ở lĩnh vực bảo vệ rừng. Ý nghĩa của hoạt động bảo vệ và phát triển rừng: - Rừng được ví như lá phổi xanh của con người. Nên bảo vệ rừng chính là để bảo vệ cuộc sống bền vững của con người.
Rừng là khu vực tập hợp cây xanh phát triển, khi quang hợp cây xanh sẽ tiếp nhận khí CO2 và thải ra oxy nên chúng đóng vai trò rất cần thiết cho mọi quá trình hô hấp của động vật nói chung và con người nói riêng. Hệ cây xanh vốn dĩ chẳng những làm cho bầu không khí trong lành hơn mà còn giảm thiểu các tác nhân gây nên ô nhiễm môi trường. Ngoài ra rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn… góp phần phòng chống thiên tai, bão lũ vốn gây ra nhiều thiệt hại về người và của. Không những vậy, trồng rừng còn vì mục đích phát triển kinh tế - bởi rừng là nguồn cung quan trọng về các nguyên vật liệu phục vụ lĩnh vực xây dựng cơ bản và cho các nhà máy sản xuất giấy, các loại đồ nội thất.
- Bảo vệ và phát triển rừng đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên này. Vai trò của bảo vệ và phát triển rừng là để đảm bảo công tác phòng hộ và cân bằng giá trị sinh thái tài nguyên rừng, đảm bảo giá trị bảo tồn sự đa dạng sinh học cũng như giá trị kinh tế bền vững của tài nguyên 9 rừng. - Với vai trò ý nghĩa to lớn của tài nguyên rừng đối với môi trường sống đã cho thấy nhiệm vụ bảo vệ rừng là cấp thiết, quan trọng. Nên yêu cầu từ phía Nhà nước phải sử dụng một cách đồng bộ và hiệu quả những công cụ chính sách pháp luật, công cụ kế hoạch và những công cụ khác trong hoạt động quản lý nhằm bảo vệ rừng.
Trong hệ thống các công cụ và biện pháp nhà nước sử dụng để quản lý hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng thì pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu ở bất kỳ quốc gia nào. Vi phạm hành chính lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng là gì Vi phạm hành chính, đó là một dạng vi phạm pháp luật diễn ra khá phổ biến ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nên việc làm rõ khái niệm vi phạm hành chính là quan trọng. Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “Vi phạm hành chính” được định nghĩa một cách chính thức tại Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH2013 ngày 20 tháng 6 năm 2012 (sau đây gọi là Luật xử lý vi phạm hành chính), Khoản 1 Điều 2 của Luật này quy định: “VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”. Vi phạm hành chính được định nghĩa trong Pháp lệnh về xử phạt vi phạm năm 1989, năm 1995, năm 2002 và được sửa đổi bổ sung năm 2007, năm 2008, cũng như đã được diễn đạt trong Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
Mặc dù chúng có khác nhau về cách diễn đạt ngôn ngữ, song xét về bản chất là giống nhau. Theo đó, những dấu hiệu căn bản của vi phạm hành chính, cụ thể đó là: + Vi phạm hành chính là những hành vi trái luật, vi phạm những quy định của pháp luật; hành vi trái luật gây ra nguy hiểm cho xã hội ở mức độ thấp, chưa hoặc không đủ cấu thành tội phạm hình sự; các hành vi này đã được quy định trong những văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. + Vi phạm hành chính là các hành vi khách quan được thực hiện ở dạng hành động hoặc không hành động ( không phải dự định của con người hay chỉ 10 tồn tại trong ý thức). + Chủ thể của vi phạm hành chính là các pháp nhân (tổ chức) hoặc các cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính.
+ Hành vi vi phạm hành chính là những hành vi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Như vậy, VPHC trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.