ĐẶT VẤN ĐỀ Chất thải rắn hữu cơ thường chứa lượng chất thải rắn bay hơi cao, dễ bị thủy phân dẫn tới axít hóa trong bể phân hủy kỵ khí, do đó ức chế quá trình methane hóa. Sự thủy phân nhanh các loại chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy sinh học là yếu tố mang tính quyết định vì tăng tốc độ axít hóa tạo thành VFA khiến pH giảm, gây ức chế quá trình methane hóa vì các yêu cầu sinh trưởng của vi khuẩn methane hóa và không phải methane hóa là khác nhau [1]. Năm 1971, Poland và Shish lần đầu tiên đề xuất tách quá trình phân hủy kỵ khí ra làm 2 giai đoạn riêng biệt để tạo điều kiện phát triển tối ưu cho 2 nhóm vi khuẩn [2]. Một số nghiên cứu của Lane (1979), Mata-Alvarez và các cộng sự (1992) cho thấy sự không ổn định của quá trình phân hủy kỵ khí mất đi khi vận hành xử lý chất thải ở tải trọng cao [3, 4].
Năm 2011, Lin và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu quá trình phân hủy kỵ khí 1 giai đoạn chất thải thức ăn, và quá trình thất bại ở OLR 3. Những hạn chế này giới hạn khả năng áp dụng quá trình phân hủy kỵ khí 1 giai đoạn vào xử lý các loại chất thải ở quy mô công nghiệp. Fei Shen và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu quá trình đồng phân hủy kỵ khí rác thải rau củ trai cây và rác thải thức ăn trong bể phân hủy kỵ khí 1 giai đoạn và 2 giai đoạn ở các tải trọng hữu cơ khác nhau nhằm đánh giá sản lượng khí sinh học và sự ổn định của quá trình, kết quả cho thấy sự lên men ethanol là chủ yếu trong quá trình phân hủy ở tải trọng thấp (dưới 2 g(VS)L-1d-1). Axít propionic tích tụ nhanh ở các tải trọng cao (lớn hơn 2 g(VS)L-1d-1), gây mất ổn định quá trình phân hủy kỵ khí.
Phân hủy kỵ khí 1 giai đoạn tỏ ra hiệu quả hơn 2 giai đoạn trên phương diện tăng 8.1% sản lượng khí CH4 ở tải trọng thấp. Tuy nhiên, ở tải trọng cao, phân hủy kỵ khí 2 giai đoạn dạt sản lượng khí CH4 cao hơn 7.8% và đạt độ ổn định cao hơn, cùng khả năng xử lý tải trọng hữu cơ cao hơn [6]. Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo và sự cần thiết phải xử lý chất thải có khả năng phân hủy sinh học đã thúc đẩy việc áp dụng công nghệ xử lý kỵ khí, tìm hướng đi mới trong việc thu hồi năng lượng tối đa từ dòng thải. 1 Trước nhu cầu đặt ra đó, đề tài “Ứng dụng quá trình đồng phân hủy kỵ khí 2 giai đoạn theo mẻ xử lý hỗn hợp chất thải rác thực phẩm, nước thải sinh hoạt, bùn bể tự hoại và bùn trạm xử lý nước thải sinh hoạt” được tiến hành.2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đồng phân hủy kỵ khí hai giai đoạn xử lý kết hợp rác thực phẩm, nước thải sinh hoạt, bùn bể tự hoại và bùn trạm xử lý nước thải sinh hoạt.
Từ đó đánh giá khả năng thu hồi năng lượng sinh khối và tiềm năng tái sử dụng hỗn hợp chất thải.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này được thực hiện với quy mô phòng thí nghiệm tại “Phòng thí nghiệm trọng điểm Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh - Công Nghệ Nâng Cao Xử Lý Chất Thải trường ĐH Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh”: Rác thực phẩm được lấy từ nhà hàng và khu dân cư ở Quận 1 Nước thải sinh hoạt được lấy từ cống thoát nước chung của chung cư Nguyễn Kim, Quận 10. Bùn bể tự hoại được lấy từ xe thu gom bùn bể tự hoại của Công ty vệ sinh Quốc Việt. Bùn trạm xử lý được lấy từ bể lắng sinh học của “Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng” (ấp 5, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh). Thành phần và đặc tính rác thải thực phẩm, nước thải sinh hoạt, bùn bể tự hoại và bùn trạm xử lý được khảo sát.
Hiệu quả xử lý và khả năng thu hồi năng lượng sinh khối của hệ thống được đánh giá.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI Tính mới của đề tài này là tìm hệ thống xử lý kết hợp rác thực phẩm, nước thải sinh hoạt, bủn bể tự hoại và bùn trạm xử lý theo hướng phát triển bền vững, thu hồi tối đa năng lượng sinh khối (cụ thể là chất hữu cơ) và chất dinh dưỡng (nitơ và phốt pho) trong dòng thải mà không loại bỏ các thành phần này như các công nghệ thông thường. Những lợi ích mà hệ thống này mang lại là tăng cường sản lượng khí methane, tạo ra lượng bùn thải cao hơn, ổn định hơn và tăng khả năng phân hủy chất hữu cơ (thay vì đem đi chôn lấp hoặc ủ compost). Bằng cách xử lý các chất ô nhiễm ngay gần nguồn phát thải, hệ thống này giúp tiết kiệm chi phí xây dựng các tuyến cống thu gom về nhà máy xử lý nước thải tập trung, 2 do vậy tính khả thi kinh tế của hệ thống xử lý cao hơn. Từ đó, ý tưởng về xử lý kết hợp các loại chất thải sinh hoạt trong cộng đồng dân cư được đề nghị trong nghiên cứu này phù hợp với yêu cầu tái sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi đồng thời tận dụng nguồn năng lượng từ quá trình kỵ khí để phục vụ phát điện hoặc đun nấu cho các hộ gia đình.
3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 HIỆN TRẠNG NƯỚC THẢI SINH HOẠT Ở VIỆT NAM Theo báo cáo “Đánh giá hoạt động quản lý nước thải đô thị tại VN” của WB năm 2013, từ năm 1998 tới nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành và áp dụng nhiều chính sách cũng như đầu tư cải thiện vệ sinh đô thị, khiến lĩnh vực thu gom và xử lý nước thải phát triển mạnh mẽ.1 cho biết 94% người dân sử dụng nhà vệ sinh, trong đó 90% số hộ gia đình sử dụng bể tự hoại làm trình xử lý tại chỗ, từ số liệu 60% hộ gia đình đấu nối vào hệ thống thoát nước công cộng, cho thấy đa phần các hộ gia đình thực hiện đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải để giải quyết nhu cầu thoát dòng nước thải phát sinh ra khỏi nhà. Mặc dù 60% hộ gia đình đấu nối vào hệ thống thoát nước công cộng, nhưng hầu hết nước thải được xả thẳng ra hệ thống tiêu thoát nước bề mặt, chỉ có 10% lượng nước thải được xử lý, nước thải từ các công trình vệ sinh tại chỗ như bể tự hoại có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm đất và làm hệ thống thoát nước bị quá tải; tình trạng này còn trở nên tệ hơn nếu nền đất thoát nước chậm.1 Tình hình xử lý nước thải ở VN theo khảo sát của WB năm 2013 [7] 4 Đến cuối năm 2018, VN có tổng cộng 30 nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung với công suất đạt 800.000m3/ngày đêm đi vào hoạt động (trong đó có nhà máy với công suất rất lớn đã đi vào hoạt động như nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng-thành phố Hồ Chí Minh với công suất 141.000m3/ngày đêm hoặc nhà máy xử lý nước thải tại Yên Sở - Hà Nội với công suất 200. Từ nay đến năm 2020 sẽ tiếp tục có hơn 30 nhà máy xử lý nước thải tập trung được đầu tư xây dựng hoặc đưa vào sử dụng. Việc quan tâm đầu tư nhà máy xử lý nước thải cùng với mạng lưới thu gom nước thải tại các đô thị đã góp phần giảm ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường, v.
Phần lớn các nhà máy xử lý nước thải đô thị hiện đang áp dụng các công nghệ xử lý chủ yếu là các biến thể khác nhau của công nghệ xử lý bậc 2 với bùn hoạt tính, ví dụ như công nghệ bùn hoạt tính truyền thống, kỵ khí-thiếu khí-hiếu khí (A2O), mương oxi hóa và xử lý sinh học theo mẻ. Công nghệ xử lý bùn hoạt tính được áp dụng phổ biến trong các nhà máy JICA tài trợ như Kim Liên, Trúc Bạch, Bắc Thăng Long (ở Hà Nội) và Bình Hưng (ở thành phố Hồ Chí Minh) theo phong trào áp dụng loại công nghệ này ở Nhật Bản. Ngoài ra, một số nhà máy còn áp dụng các công nghệ xử lý đơn giản hơn, như hệ thống hồ yếm khí phủ bạt (Đà Nẵng), chuỗi hồ sinh học (Buôn Ma Thuột), bể sục khí/hồ hoàn thiện (Bình Hưng Hòa – Hồ Chí Minh) và hệ thống bể lắng hai vỏ, lọc sinh học nhỏ giọt (Đà Lạt). Tuy nhiên, các công trình có mức tiêu thụ điện thấp, có khả năng thu hồi tài nguyên từ bùn hoặc tái sử dụng nước thải sau xử lý còn chưa được chú trọng.1 Sự tiêu thụ và chi phí năng lượng cho công nghệ xử lý nước thải hiện nay Lượng tài nguyên hiện diện trong nước thải đô thị cho ta thấy rằng hiện nay tài nguyên này đã và đang được khai thác một cách bất hợp lý trong chu trình nước cổ điển.
Trong chu trình này, nước được khai thác từ tự nhiên và xử lý để đủ các điều kiện cần để tạo ra nước cấp cho sinh hoạt có chất lượng, sau đó được vận chuyển đến người sử dụng. Lượng nước này sau khi sử dụng bị nhiễm các chất bẩn rồi được vận chuyển và xử lý bởi một hệ thống xử lý nước thải tốn kém trước khi trả lại môi trường mà phần lớn hệ thống lại không thu hồi được các nguồn tài nguyên chứa trong nước. Thực trạng hiện nay, hệ thống xử lý nước thải phổ biến nhất đang sử dụng là công 5 nghệ BHT thông thường, mà nguyên lý là sinh khối của các vi khuẩn lơ lửng trong nước được đồng hóa một phần với các hợp chất hữu cơ có trong nước thải, các thành phần khoáng khác một phần chuyển thành CO2 thông qua quá trình hô hấp hiếu khí, oxy hóa hợp chất Amonia thành Nitrate (quá trình nitrat hóa), có thể kết hợp để hấp thụ các hợp chất Phốt pho hoặc chuyển thành các phức kim loại [8]. Trong điều kiện tốt nhất, sinh khối dư thừa (bùn) được tạo ra trong quá trình BHT truyền thống có thể được phân hủy kỵ khí nhằm thu hồi một số năng lượng ở dạng khí sinh học giàu mêtan, tuy nhiên phần lớn chất dinh dưỡng lại không thu hồi được (một số dạng Phốt pho có thể được phục hồi từ quá trình đốt bùn, tuy nhiên quá trình này là không được áp dụng rộng rãi), kể cả là dòng đầu ra cũng không phù hợp để tái sử dụng nếu không xử lý bổ sung.