CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC RÖT GỌN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.1 KHÁI NIỆM THỦ TỤC RÖT GỌN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ. Tố tụng là một thuật ngữ pháp lý thuộc luật hình thức, chỉ thủ tục giải quyết các vụ việc theo trình tự tư pháp. Tố tụng hình sự được hiểu là toàn bộ hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, kịp thời, chính xác, đúng pháp luật. Quá trình giải quyết các vụ án hình sự trải qua các giai đoạn sau: khởi tố vụ án hình sự; điều tra vụ án hình sự và truy tố; xét xử vụ án hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm tùy theo các vụ án cụ thể) và thi hành án.
Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có mục đích chung là đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có tư cách pháp lý khác nhau, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án do pháp luật tố tụng hình sự quy định một cách chặt chẽ bởi có đụng chạm nhiều đến quyền tự do, lợi ích của công dân. Trên thế giới, mỗi quốc gia có pháp luật tố tụng hình sự riêng, thể hiện quan niệm, truyền thống pháp luật , văn hoá và điều kiện kinh tế xã hội của từng nước.
Chúng ta biết đến 4 hệ thống pháp luật phổ biến trên thế giới là: Hệ thống án lệ (Common law); hệ thống luật Châu âu lục địa; hệ thống luật Xã hội chủ nghĩa; hệ thống luật Tôn giáo. Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự trên thế giới người ta nhận thấy các nước dù thuộc cùng một truyền thống pháp luật thì các quy định về luật tố tụng hình sự cũng có nhiều điểm rất khác nhau. Tuy 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên, khái quát lại có hai mô hình tố tụng hình sự phổ biến là mô hình kiểm soát tội phạm và mô hình tố tụng công bằng. Mô hình kiểm soát tội phạm nhấn mạnh tính hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự.
Mô hình này coi chức năng quan trọng nhất của tố tụng hình sự là trấn áp các hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tự do, bảo đảm sự an toàn về thân thể và tài sản cho mọi công dân cũng như các lợi ích của nhà nước. Do vậy các hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành nhanh chóng, dứt khoát và không có thủ tục nào mang tính hình thức làm cản trở hoạt động tố tụng. Nếu một người bị bắt nhưng không phạm tội sẽ được giải quyết trả tự do ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng trong khi người phạm tội phải được xử lý nhanh chóng và chắc chắn. Chính vì vậy, trong mô hình kiểm soát tội phạm, giai đoạn điều tra ban đầu được coi là cực kỳ quan trọng.
Ngược lại, mô hình tố tụng công bằng được xây dựng trên quan điểm tôn trọng các quyền của cá nhân và hạn chế quyền lực của cơ quan, người tiến hành tố tụng nên nhấn mạnh một quy trình tìm kiếm bằng chứng mang nặng tính hình thức thông qua tranh tụng. Hoạt động tố tụng dựa trên mô hình này do vậy, được tiến hành chậm và thiếu dứt khoát nên hạn chế khả năng kiểm soát tội phạm. Có một số quan điểm nhìn nhận các giá trị của mô hình kiểm soát tội phạm và mô hình tố tụng công bằng là trái ngược nhau. Thực ra cả hai mô hình đều hướng tới bảo vệ quyền tự do của con người nhưng với một quan điểm và cách thức khác nhau.
Mô hình kiểm soát tội phạm muốn đạt được mục tiêu đó bằng cách đề cao tự do của mọi người trên cơ sở trấn áp tội phạm một cách có hiệu quả nhất. Mô hình tố tụng công bằng, ngược lại, nhấn mạnh việc hạn chế có hiệu quả sự can thiệp của cơ quan, người tiến hành tố tụng vào tự do cá nhân của người bị tình nghi, người phạm tội. Mỗi mô hình nhấn mạnh cái mà mô hình kia thiếu hụt, tuy nhiên không thể và cũng không nên kết luận mô 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình nào là tốt hơn cả. Chính vì vậy các quốc gia có xu hướng tự tìm kiếm cho mình một sự cân bằng giữa hai mô hình nói trên.
Một vấn đề đáng chú ý là trong pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước theo các mô hình tố tụng khác nhau, có truyền thống pháp luật và điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau đều có một số quy định về thủ tục rút gọn, một loại thủ tục được coi là có tác dụng tăng cường tính hiệu quả của hoạt động TTHS. Điều này cho thấy những giá trị của thủ tục rút gọn đã được thừa nhận một cách phổ biến và không ảnh hưởng đến các nguyên tắc mà các mô hình tố tụng khác nhau theo đuổi. Thủ tục rút gọn (summary procedure or briefed proceedings) trong tố tụng hình sự là một dạng thủ tục tố tụng đặc biệt. Thuật ngữ “thủ tục rút gọn” thực ra cũng mang tính ước lệ.
Một số thuật ngữ khác như: “thủ tục rút ngắn”, “thủ tục giản lược” cũng được sử dụng với nghĩa tương tự. Trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước tuy không sử dụng các thuật ngữ nói trên nhưng có một số quy định mà về bản chất là áp dụng thủ tục rút gọn (như thủ tục thoả thuận thú tội). Thủ tục rút gọn hiểu theo nghĩa chung nhất là việc giảm bớt một số thủ tục tố tụng so với thủ tục bình thường (như giảm bớt một số khâu công việc, một số thủ tục giấy tờ, giảm bớt thành phần người tiến hành và tham gia tố tụng. Phạm vi áp dụng thường là các vụ án về tội ít nghiêm trọng, chứng cứ rõ ràng, có chế tài nhẹ.
Tuy vậy phạm vi, điều kiện, mức độ áp dụng thủ tục rút gọn không giống nhau ở mỗi nước. Thường ở các nước việc áp dụng thủ tục rút gọn chủ yếu tập trung ở khâu xét xử. Việc đưa ra một định nghĩa chung về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự gặp khó khăn do sự khác biệt về nội dung áp dụng thủ tục rút gọn của các nước trên thế giới. Tuy vậy , qua nghiên cứu thủ tục rút gọn trong pháp luật TTHS của các nước và của nước ta trong lịch sử, có thể định nghĩa thủ tục rút gọn trong TTHS như sau: Thủ tục rút gọn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong tố tụng hình sự là một loại thủ tục đã được giản lược so với thủ tục bình thường nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, nhằm giải quyết nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả các vụ án hình sự trong phạm vi và điều kiện do pháp luật qui định.
Mục đích của việc áp dụng thủ tục rút gọn là nhằm giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số loại án, qua đó tiết kiệm được thời gian, công sức, kinh phí cho các cơ quan tiến hành tố tụng và cho cả người tham gia tố tụng (nhất là bị can, bị cáo). Nhờ đó các cơ quan tiến hành tố tụng có thêm điều kiện để giải quyết các vụ án phức tạp, nghiêm trọng. Hệ quả là tốc độ xử lý án của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự được nâng cao, hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm được tăng cường, pháp chế trong hoạt động tố tụng hình sự và các quyền , lợi ích hợp pháp của công dân được đảm bảo tốt hơn. Bên cạnh ý nghĩa tích cực nêu trên, thủ tục rút gọn cũng tiềm ẩn một số hạn chế ở chừng mực nhất định.
Do hạn chế về thời gian và việc rút gọn một số thủ tục nên điều kiện để bị can, bị cáo thực hiện các quyền tố tụng ít nhiều bị hạn chế so với thủ tục thông thường. Chúng ta cần nhận rõ điều này để việc nghiên cứu xây dựng và áp dụng thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng hình sự phát huy được tối đa mặt tích cực và giảm thiểu mặt hạn chế có thể phát sinh.2 THỦ TỤC RÖT GỌN VỚI CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ.1 Thủ tục rút gọn với các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự. “Nguyên tắc”được hiểu là “điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” (1). Theo đó, những nguyên tắc chung của tố tụng hình sự có thể hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự.
(1) Từ điển tiếng Việt. Trung tâm từ điển học Hà nội Việt nam -NXB Khoa học xã hội 1994 - Tr 672. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về phương diện cơ sở lý luận, việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa áp dụng thủ tục rút gọn với việc đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự là rất quan trọng. Thủ tục tố tụng dù là thủ tục đặc biệt hay thủ tục thông thường đều không được trái với các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự.
Do vậy nếu việc xây dựng thủ tục rút gọn có sự xung đột nào đó với các nguyên tắc TTHS hiện hành thì cần được giải quyết thoả đáng. Dưới đây chúng tôi nghiên cứu, xem xét mối quan hệ giữa việc áp dụng thủ tục rút gọn với việc đảm bảo các nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Thủ tục rút gọn với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc pháp chế XHCN là nguyên tắc pháp lý cơ bản, chung nhất mà bất cứ hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân nào trong đó có hoạt động tố tụng hình sự phải tuân thủ.
Hiến pháp nước ta khảng định : Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Pháp chế xã hội chủ nghĩa được hiểu là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, nhân viên của cơ quan, tổ chức đó và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách triệt để và thống nhất.