Luận văn ThS. Nguyễn Thị Thùy Trang - Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Cơ sở dữ liệu

Luận văn thạc sĩ đề xuất phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Cơ sở dữ liệu cho giảng viên và sinh viên Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

306
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thùy Trang thuộc chuyên ngành Giáo dục học, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013. Đề tài tập trung xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn Cơ sở dữ liệu tại Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức. Mục tiêu chính là đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng công bằng, khách quan kết quả học tập của sinh viên. Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm là tập hợp các câu hỏi được xây dựng theo quy trình khoa học, phân loại theo mức độ nhận thức và theo chuẩn chương trình. Môn Cơ sở dữ liệu là môn học cốt lõi trong ngành Công nghệ thông tin, đòi hỏi sinh viên nắm vững cả lý thuyết lẫn thực hành. Việc xây dựng ngân hàng câu hỏi giúp chuẩn hóa quy trình kiểm tra, tiết kiệm thời gian cho giảng viên và đảm bảo tính khách quan trong đánh giá.

1.1. Khái niệm ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm là một hệ thống lưu trữ có tổ chức các câu hỏi trắc nghiệm đã được xây dựng, kiểm định và phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo tài liệu luận văn, ngân hàng câu hỏi phải đảm bảo bao quát toàn bộ nội dung chương trình, được phân loại theo mức độ nhận thức từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng. Các câu hỏi trong ngân hàng phải được mã hóa, lưu trữ trong hệ thống máy tính để dễ dàng truy xuất và sử dụng. Ngân hàng câu hỏi không chỉ là nơi lưu trữ mà còn là công cụ hỗ trợ giảng viên trong việc tạo đề kiểm tra nhanh chóng, chính xác và đảm bảo tính công bằng.

1.2. Vị trí của môn Cơ sở dữ liệu trong chương trình đào tạo

Môn Cơ sở dữ liệu đóng vai trò nền tảng trong chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin tại các trường cao đẳng. Sinh viên cần nắm vững kiến thức về mô hình quan hệ, ngôn ngữ truy vấn SQL, thiết kế cơ sở dữ liệu và các nguyên lý normalization. Đây là môn học có tính ứng dụng cao, yêu cầu sinh viên vừa hiểu lý thuyết vừa có khả năng thực hành. Việc đánh giá kết quả học tập môn này cần bao quát được toàn bộ nội dung từ cơ bản đến nâng cao. Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm giúp đảm bảo tính toàn diện trong kiểm tra, đánh giá năng lực sinh viên một cách khách quan.

II. Phân tích thực trạng kiểm tra đánh giá môn cơ sở dữ liệu

Thực trạng kiểm tra đánh giá tại Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức cho thấy nhiều hạn chế cần được khắc phục. Phương pháp kiểm tra truyền thống chủ yếu sử dụng câu hỏi tự luận, tốn nhiều thời gian chấm bài và khó đảm bảo tính khách quan. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng công bằng, khách quan kết quả học tập của sinh viên. Tuy nhiên, nhiều giảng viên gặp khó khăn trong việc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm đạt chuẩn. Ngân hàng câu hỏi hiện có chưa đầy đủ, chưa được phân loại theo mức độ nhận thức. Việc ra đề kiểm tra còn mang tính tự phát, thiếu hệ thống. Điều này dẫn đến kết quả đánh giá chưa phản ánh đúng năng lực thực tế của sinh viên. Giải pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm chuyên nghiệp trở thành nhu cầu cấp thiết.

2.1. Hạn chế của hình thức kiểm tra truyền thống

Hình thức kiểm tra truyền thống với câu hỏi tự luận có nhiều bất cập trong đánh giá kết quả học tập môn Cơ sở dữ liệu. Thời gian chấm bài kéo dài, áp lực lớn cho giảng viên khi số lượng sinh viên đông. Tính khách quan bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan từ người chấm. Một đề thi tự luận khó bao quát được toàn bộ nội dung chương trình, thường chỉ tập trung vào một số chủ đề nhất định. Bên cạnh đó, việc so sánh kết quả giữa các lần thi khác nhau gặp nhiều khó khăn. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả đánh giá và không đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

2.2. Nhu cầu xây dựng ngân hàng câu hỏi đạt chuẩn

Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đạt chuẩn là nhu cầu cấp thiết tại Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức. Ngân hàng câu hỏi phải đảm bảo bao quát toàn bộ nội dung chương trình môn Cơ sở dữ liệu. Các câu hỏi cần được phân loại theo ba mức độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Quy trình xây dựng phải tuân thủ các bước từ phân tích chương trình, soạn thảo câu hỏi, lấy ý kiến chuyên gia đến thử nghiệm và phân tích câu hỏi. Ngân hàng câu hỏi đạt chuẩn giúp giảng viên dễ dàng tạo đề kiểm tra nhanh chóng, đảm bảo tính công bằng và chính xác trong đánh giá kết quả học tập sinh viên.

III. Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu

Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được thực hiện qua nhiều bước có hệ thống theo luận văn của Nguyễn Thị Thùy Trang. Bước đầu tiên là xây dựng dàn bài trắc nghiệm dựa trên chuẩn chương trình, xác định nội dung và mức độ nhận thức cho từng câu hỏi. Tiếp theo là soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm, đây là công đoạn quan trọng đòi hỏi sự công phu và tỉ mỉ. Người biên soạn phải đọc và sửa chữa nhiều lần, sau đó trao đổi với đồng nghiệp. Các câu hỏi được tổ chức đọc duyệt, biên tập trước khi lưu vào hệ thống máy tính. Tiếp đó là lấy ý kiến tham khảo từ các chuyên gia, giảng viên lâu năm và chuyên gia phương pháp dạy học. Cuối cùng là tổ chức thử nghiệm và phân tích câu trắc nghiệm để đánh giá độ tin cậy, độ khó và khả năng phân biệt.

3.1. Các bước xây dựng dàn bài và soạn thảo câu hỏi

Xây dựng dàn bài trắc nghiệm là bước nền tảng trong quy trình tạo ngân hàng câu hỏi. Dàn bài xác định rõ nội dung cần kiểm tra, số lượng câu hỏi cho từng chương và mức độ nhận thức tương ứng. Từ dàn bài, người nghiên cứu tiến hành soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm theo các dạng: nhiều lựa chọn, đúng sai và điền khuyết. Câu hỏi nhiều lựa chọn có phần thân câu hỏi và bốn hoặc năm lựa chọn, trong đó chỉ có một đáp án đúng. Mỗi câu hỏi phải được xây dựng chính xác, rõ ràng, không gây hiểu nhầm cho người trả lời. Quá trình soạn thảo cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc chế tác câu hỏi trắc nghiệm.

3.2. Thử nghiệm và phân tích chất lượng câu hỏi

Sau khi soạn thảo, các câu hỏi trắc nghiệm được thử nghiệm trên nhóm sinh viên đại diện. Kết quả thử nghiệm được phân tích bằng các phương pháp thống kê để đánh giá độ khó và khả năng phân biệt của từng câu hỏi. Độ khó được tính theo tỷ lệ sinh viên trả lời đúng, khả năng phân biệt thể hiện sự khác biệt giữa nhóm giỏi và nhóm yếu. Những câu hỏi có độ khó quá cao hoặc quá thấp, khả năng phân biệt kém sẽ bị loại bỏ hoặc chỉnh sửa. Quá trình này đảm bảo chất lượng câu hỏi trước khi đưa vào ngân hàng chính thức. Ngân hàng câu hỏi sau khi hoàn thiện được mã hóa và lưu trữ trong hệ thống máy tính để sử dụng lâu dài.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của ngân hàng câu hỏi

Luận văn đã hoàn thành mục tiêu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Cơ sở dữ liệu cho Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức. Ngân hàng câu hỏi được xây dựng theo quy trình khoa học, đảm bảo bao quát toàn bộ nội dung chương trình. Các câu hỏi được phân loại theo mức độ nhận thức và đã qua thử nghiệm, phân tích chất lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngân hàng câu hỏi đáp ứng được yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan.Ứng dụng thực tiễn của ngân hàng câu hỏi rất đa dạng. Giảng viên có thể sử dụng để tạo đề kiểm tra nhanh chóng, tiết kiệm thời gian. Ngân hàng câu hỏi cũng là tài liệu tham khảo quý giá cho sinh viên ôn tập. Đề kiểm tra được tạo từ ngân hàng đảm bảo tính đồng nhất giữa các lần thi. Nghi cứu mở ra hướng phát triển mới cho công tác kiểm tra đánh giá trong giáo dục nghề nghiệp.

4.1. Giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài mang giá trị khoa học ở chỗ hệ thống hóa quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm một cách bài bản và có cơ sở lý luận. Nghiên cứu đã tổng hợp các dạng câu hỏi trắc nghiệm phù hợp với đặc thù môn Cơ sở dữ liệu. Về mặt thực tiễn, ngân hàng câu hỏi giúp giải quyết vấn đề thiếu hụt tài liệu kiểm tra đạt chuẩn tại Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức. Giảng viên có công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc ra đề kiểm tra. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng tại các trường cao đẳng, đại học khác có đào tạo môn Cơ sở dữ liệu.

4.2. Hướng phát triển và mở rộng ngân hàng câu hỏi

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cần được liên tục cập nhật và mở rộng để đáp ứng sự thay đổi của chương trình đào tạo. Hướng phát triển thứ nhất là bổ sung câu hỏi theo các mức độ nhận thức cao hơn, đặc biệt là mức phân tích và sáng tạo. Hướng thứ hai là tích hợp ngân hàng câu hỏi vào hệ thống thi trực tuyến, cho phép sinh viên tự kiểm tra và đánh giá năng lực.Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân hàng câu hỏi giúp tăng hiệu quả sử dụng. Nghiên cứu cũng có thể mở rộng sang các môn học khác trong khối ngành Công nghệ thông tin tại trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1 Trên thế giới Trên thế giới, khoa học đo lường đã ra đời khoảng một thế kỷ ở châu Âu, cho đến nay đã phát triển hết sức mạnh mẽ và có nhiều thành công trong lĩnh vực đo lường, đánh giá trong giáo dục. Ở châu Âu và đặc biệt là Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh từ thời kỳ trước và sau chiến tranh thế giới thứ 2 với nhiều dấu mốc quan trọng như trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào năm 1923. Với việc chấm bài trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập NCME vào thập niên 1950 và ra đời ETS (dịch vụ trắc nghiệm giáo dục) năm 1947 ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ. Từ đó đến nay khoa học về đo lường tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình, đóng góp đối với khoa học này xuất hiện thường xuyên làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn.

Ngoài ra, trên những thành tựu của IRT và ngôn ngữ học máy tính công nghệ E-RATE chấm tự động các bài luận tiếng anh nhờ máy tính của ETS đã được triển khai nhờ mạng Internet trong năm vùa qua. Trong các kỳ thi tuyển sinh đại học mà dựa vào kết quả của các kỳ thi do các công ty ngoài Nhà nước tổ chức để xét tuyển. Có hai dịch vụ hỗ trợ TTĐH ở Hoa Kỳ là SAT (Scholastic Achievement Test) do công ty ETS (Educational Testing Services) tổ chức, và ACT (American College Test) do chương trình ACT (American College Testing Program) triển khai. 5 Cả SAT và ACT thường tổ chức thi mỗi năm 4 lần, cho các học sinh ở những năm cuối bậc phổ thông trung học.

Hiện nay hàng năm có khoảng 1,8 triệu thí sinh thi SAT và 1,6 triệu thí sinh thi ACT.2 Tại Việt Nam Trước năm 1975, ở Miền Nam nước ta đã có một vài người được đào tạo về khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục từ các nước phương Tây. Vào năm 1974, kỳ thi tú tài lần đầu tiên được tổ chức ở Miền Nam bằng phương pháp TNKQ. Những năm sau 1975, ở miền Bắc có một số cán bộ nghiên cứu về khoa học đo lường trong tâm lý. Đến năm 1993, Bộ GD-ĐT đã mời một số chuyên gia nước ngoài phổ biến về khoa học này, đồng thời cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập.

Từ đó một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi. Kỳ thi tuyển đại học thí điểm được tổ chức tại trường đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 bằng phương pháp TNKQ. Kỳ thi này có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề TNKQ và tự luận được sử dụng để thí sinh tự chọn. Có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề TNKQ, bài thi được chấm bằng máy Opscan-7.

Từ năm 1997 các hoạt động đổi mới phương pháp đo lường và đánh giá trong giáo dục lắng xuống. Cho đến mùa thi tuyển đại học năm 2002, Bộ GD-ĐT đã tổ chức kỳ thi tuyển đại học theo hình “3 chung”. Năm 2002, Bộ GD-ĐT đã quan tâm tới việc thành lập “Phòng kiểm định chất lượng chất lượng đào tạo” nằm trong Vụ Đại học. Ngày 18/7/2003, Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP.

Quyết định thành lập Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục đánh dấu một thời kỳ mới của sự phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam. 6 Năm 2005, Bộ GD-ĐT quyết định sẽ dùng phương pháp TNKQ để làm đề thi một số môn trong kỳ tuyển sinh đại học. Đồng thời dần đưa phương pháp TNKQ vào kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các cấp học, ngành học. Đến nay đã sử dụng đề thi TNKQ trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học cho các môn thi Ngoại ngữ, Vật lý, Hóa học, Sinh học.

Riêng đối với môn Toán, Bộ GD-ĐT dự định triển khai dùng đề thi TNKQ trong hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học năm 2008, nhưng còn nhiều ý kiến của các chuyên gia cho rằng, câu hỏi TNKQ không đo lường hết mức độ nhận thức của học sinh, hơn nữa vì chưa thật sự chuẩn bị tốt nên việc sử dụng đề thi TNKQ môn Toán trong hai kỳ thi này bị dừng lại.3 Những nghiên cứu về trắc nghiệm có liên quan đến đề tài Những năm đầu của thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học GD và khoa học QLGD ở Việt Nam, vấn đề KTDG bằng trắc nghiệm khách quan cũng được đề cập nhiều trong một số sách, các bài báo về GD, QLGD cụ thể như: “Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm” của Bộ giáo dục và đào tạo – Vụ đại học; “Viết và phân tích trắc nghiệm giáo dục” của tác giả Huỳnh Huynh; Tác giả Dương Thiệu Tống với “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập”; Tác giả Phan Trọng Ngọ ở tác phẩm “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường bàn về khái niệm đánh giá, mối quan hệ của đánh giá và mục tiêu học tập, các phương pháp đánh giá”; Tác phẩm “Đánh giá trong giáo dục” của Trần Thị Tuyết Oanh đề cập đến những vấn đề cơ bản về KT-ĐG bằng trắc nghiệm khách quan một cách hệ thống”.TSKH Lâm Quang Thiệp cũng viết khá nhiều sách, tạp chí như bài “Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập ở các trường đại học nước ta” và quyển “Trắc nghiệm và ứng dụng” cuốn sách phổ cập cho những người làm giáo dục, phổ biến rộng rãi về khoa học đo lường trong giáo dục bằng trắc nghiệm khách quan. 7 Hiện nay cũng có rất nhiều luận văn thạc sĩ thực hiện về đề tài xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm như: luận văn “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ lớp 10” của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Toán đại số tuyến tính cho sinh viên khối không chuyên của Cổ Tồn Minh Đăng; Hoàng Thị Hằng với “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức và ngân hàng đề thi kỹ năng cho nghề dệt may thổ cẩm theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề”; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Vật lý lớp 11” của Lê Thị Linh; … Những đề tài xây dựng ngân hàng câu hỏi thuộc lĩnh vực CNTT như: “Xây dựng ngân hàng câu hỏi thi trắc nghiệm cho môn học Vi xử lý - Vi điều khiển” của Nguyễn Tuấn Anh – ĐH Thái Nguyên; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn kỹ thuật vi xử lý trường trung học kỹ thuật thực hành” của Trần Thị Quỳnh Như… 1.2 Khái niệm trắc nghiệm khách quan 1.1 Khái niệm chung về trắc nghiệm (TEST) Trắc nghiệm (test) theo tiếng Anh là “thử”. “phép thử”, “sát hạch”. Theo nghĩa chữ Hán, “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực”.

[18, Tr 13] Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học. Dương Thiệu Tống: Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái (Behavior) để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập dự kiến”. [18, Tr 364] Trong giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund như sau: Trắc nghiệm là một 8 công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể. Trần Bá Hoành: Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo để tham dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu.) hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh.

[5, Tr 36] Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “trắc nghiệm” là một công cụ được sử dụng để đo lường thành tích đạt được của cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể nào đó. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một khóa học, môn học hoặc một thời gian học,… 1.2 Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm khách quan được biểu đạt bằng hệ thống các câu hỏi. Người trả lời được chọn câu trả lời đúng hoặc tốt nhất trong số các câu trả lời cho một câu hỏi. Người chấm căn cứ vào hệ thống cho điểm khách quan để đánh giá, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm.

Ngày nay, việc nâng cao tính khách quan cho quá trình kiểm tra, đánh giá; mang lại kết quả chính xác, công bằng và giảm thiểu được những tiêu cực trong quá trình tổ chức thi cử đang ngày càng được nhiều người quan tâm, ủng hộ.3 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm Theo Millman (1984): Ngân hàng câu hỏi thi là một tập hợp các câu hỏi thi nào đó để dễ sử dụng để tổ hợp thành đề thi. [18,Tr44] Trong thực tế, quan niệm về ngân hàng câu hỏi có thể khác nhau tùy theo mục đích sử dụng và mức độ làm chủ khoa học đo lường trong giáo dục. Nhưng hầu như tất cả đều thừa nhận rằng các câu hỏi được lưu giữ trong ngân hàng câu hỏi thì phải là những câu hỏi tốt.3 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan Theo tác giả Lê Đức Ngọc, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng với ba mục đích chính là để giảng dạy, để học tập và để kiểm tra đánh giá.1 Sử dụng trong giảng dạy Đổi mới phương pháp dạy học: Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên việc xác định các mục tiêu và phân tích nội dung học tập một cách chuẩn mực. Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với từng mục tiêu và nội dung học tập đã xác định.

Vậy nên, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có tác dụng định hướng quá trình dạy học, tránh dạy tủ và học tủ. Chuẩn hóa kiến thức môn học: Việc kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng và là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ