phần mở đầu, phần nội dung gồm 3 chương, 10 tiết, phần kết luận và tài liệu tham khảo. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ 1. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã 1. Các khái niệm liên quan đến chính quyền cấp xã Nghiên cứu những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ CBCC xã, trước hết cần nghiên cứu vị trí, vai trò, đặc điểm của cấp xã nói chung và ở xã nói riêng.
Để xác định đúng đắn vị trí, vai trò của cấp xã cần tiếp cận đến các khái niệm như: đơn vị hành chính, chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn, cấp xã, xã, phường, thị trấn, chính quyền cơ sở. Khái niệm đơn vị hành chính theo Từ điển hành chính thì các khái niệm đơn vị hành chính, đơn vị lãnh thổ được hiểu như sau: - Đơn vị hành chính: đơn vị, tổ chức, tổ chức hành chính do quy định của pháp luật. Mỗi đơn vị hành chính địa phương đều có ranh giới hành chính và chức năng do pháp luật quy định. 100] - Đơn vị lãnh thổ: đơn vị hành chính lãnh thổ quốc gia được phân chia theo thứ bậc hành chính, đảm bảo sự phối hợp quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước và quyền chủ động quản lý của địa phương (tỉnh, huyện, xã)[37, tr.101] Theo quan niệm trên, khái niệm chính quyền cấp xã (viết tắt CQCX) thuộc đơn vị hành chính lãnh thổ ở địa phương ở cấp thấp nhất.
Khái niệm đô thị và khái niệm nông thôn - Nông thôn là vùng tập trung dân cư làm nghề nông. Chính quyền được tổ chức trên lãnh thổ mà chủ yếu là vùng nông thôn được gọi là tỉnh, huyện, xã. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đô thị được hiểu là nơi cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực phi nông nghiệp. Ở Việt Nam, đô thị được hiểu là 1 khu dân cư tập trung có đủ 2 điều kiện: Về cấp quản lý là thành phố, thị xã, quận, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, về trình độ phát triển đô thị phải đạt được các tiêu chuẩn như sau: + Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (viết tắt KT - XH), của cả nước hoặc vùng lãnh thổ nhất định.
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%. + Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu đạt 70% mức tiêu chuẩn quy định theo loại đô thị. + Quy mô dân số ít nhất là 4000 người. Theo quan điểm của các nhà quản lý đô thị hiện nay, thì “ đô thị là nơi tập trung đông đúc dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo lối sống và phong cách thành thị.
Đó là lối sống được đặc trưng bởi những đặc điểm: có nhu cầu về tinh thần cao, tiếp thu nền văn minh của nhân loại nhanh chóng, có đầu tư cơ sở hạ tầng KT - XH đầy đủ và thuận tiện. Theo quan niệm trên, các đơn vị hành chính sau đây thuộc về chính quyền đô thị: Thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thuộc tỉnh, quận, thị xã, phường, thị trấn. Ở nước ta, các huyện thuộc thành phố, các xã thuộc thành phố thuộc tỉnh, thuộc thị xã có xu hướng đô thị hoá cao hơn các đơn vị hành chính ở nông thôn. Đây là xu hướng biến động đáng chú ý khi nghiên cứu về chính quyền xã cũng như CBCC xã.
CQCX bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (viết tắt HĐND - UBND) xã, phường, thị trấn. Đây là cấp chính quyền thứ 4, cấp chính quyền thấp nhất nên gọi là chính quyền cơ sở. Vì vậy CBCC cấp chính 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền cơ sở là những người làm việc thường xuyên ở các cơ quan của HĐND - UBND cấp xã. Chính quyền xã là nói đến HĐND - UBND xã tách bạch với phường và thị trấn.
Khái niệm về hệ thống chính trị cơ sở: Hệ thống chính trị ở nước ta là 1 thiết chế chính trị - xã hội, bao gồm hệ thống các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các cơ quan nhà nước được thành lập từ Trung ương đến cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, chuyển tải và trực tiếp tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân xây dựng CNXH làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hệ thống chính trị cơ sở ở Việt Nam bao gồm các tổ chức chính trị (tổ chức Đảng), chính quyền cấp xã (viết tắt CQCX), và các tổ chức chính trị xã hội khác như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam, được tổ chức ở xã, phường, thị trấn. Trong hệ thống chính trị cơ sở, Đảng là hạt nhân chính trị có nhiệm vụ lãnh đạo cả hệ thống chính trị. Tìm hiểu khái niệm này cho thấy CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở rộng hơn khái niệm CBCC chính quyền xã.
Khái niệm chính quyền cấp xã : Trong bộ máy nhà nước bên cạnh những cơ quan nhà nước ở Trung ương, thì chính quyền địa phương là bộ phận không thể thiếu được. Không một nhà nước nào có thể ban hành và thực thi pháp luật trên toàn lãnh thổ của đất nước mà không cần có sự tham gia của chính quyền địa phương. Hay về thuật ngữ chính quyền địa phương có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, chính quyền được hiểu theo 2 nghĩa: Bộ máy điều hành, quản lý công việc nhà nước ở các cấp.
Quyền quản lý, điều khiển bộ máy nhà nước ở các cấp. Như vậy theo quan niệm này thì chính 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền địa phương là bộ máy quản lý, điều hành các công việc nhà nước ở địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (viết tắt HĐND - UBND) và cả các cơ quan nhà nước khác ở địa phương như Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên thuật ngữ chính quyền địa phương còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn : Chính quyền địa phương là một nhóm người chịu trách nhiệm đối với việc quản lý hành chính một vùng lãnh thổ. Như vậy chính quyền địa phương ở đây được hiểu là các cơ quan hành chính ở địa phương chịu trách nhiệm quản lý hành chính các công việc của địa phương, ở nước ta gồm có: HĐND -UBND.
Chính quyền địa phương là một bộ phận cấu thành của chính quyền nhà nước thống nhất được lập ra để quản lý đời sống xã hội ở địa phương. Chính quyền địa phương ở nước ta theo Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 được tổ chức thành 3 cấp tương ứng với các đơn vị hành chính gồm cấp tỉnh (bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (gồm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), và cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn). Mỗi cấp đều có HĐND - UBND. Như vậy có thể thấy CQCX là một bộ phận hợp thành của chính quyền địa phương và là cấp thấp nhất (gọi là cấp cơ sở).
Cũng như các cấp chính quyền địa phương khác, CQCX gồm có HĐND - UBND là bộ máy thực thi quyền lực nhà nước trong phạm vi xã, phường, thị trấn. Vị trí, tính chất pháp lý của HĐND - UBND cấp xã được pháp luật quy định chung trong vị trí, tính chất pháp lý của HĐND - UBND các cấp. - HĐND theo Điều 119 của Hiến pháp 1992 và Điều 1 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được sửa đổi bổ sung năm 2003 quy định: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Theo quy định trên, HĐND có 2 tính chất sau: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
HĐND là cơ quan nhà nước được nhân dân địa phương trao quyền thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước. HĐND còn đại diện cho quyền lực nhà nước ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao trên cơ sở sự phân cấp quản lý nhằm giải quyết những công việc chung của nhà nước ở địa phương. HĐND thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương không với chức năng lập pháp mà với chức năng chấp hành pháp luật chung của nhà nước và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Vì vậy, thực chất HĐND chủ yếu thực hiện quyền hành pháp ở địa phương.
+ HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương. Có thể nói, ở địa phương HĐND là cơ quan duy nhất do nhân dân địa phương bầu ra theo nguyên tắc trực tiếp, phổ thông và bỏ phiếu kín. Đại biểu HĐND đại diện cho các tầng lớp nhân dân địa phương, nói lên tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân địa phương, đại diện cho trí tuệ tập thể của nhân dân. - UBND được Điều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được quy định: do HĐND bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
Như vậy, UBND có các vị trí, tính chất pháp lý sau: + UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND do HĐND cùng cấp bầu ra có trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. + UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. UBND thực hiện việc quản lý nhà nước ở địa phương trên mọi lĩnh vực góp phần bảo 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.