Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đang tạo ra áp lực nặng nề lên công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Theo ước tính của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2015 đã vượt mức 23 triệu tấn và tiếp tục gia tăng nhanh chóng qua các năm. Tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh – một trung tâm công nghiệp trọng điểm với quy mô dân số 157.480 người cùng hơn 17.000 lao động nhập cư làm việc tại 03 khu công nghiệp và 02 cụm công nghiệp – lượng rác thải sinh hoạt phát sinh đã chạm ngưỡng 102,5 tấn mỗi ngày vào năm 2016. Thực trạng rác thải ùn ứ dọc theo 69 km đê sông Đuống, sông Cầu và các trục quốc lộ 18, tỉnh lộ 279 đang đe dọa trực tiếp đến chất lượng sống và sự phát triển bền vững của địa phương.

Trước nguồn ngân sách công hạn hẹp, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng xã hội hóa trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Quế Võ giai đoạn 2014 - 2016. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, phân tích các mô hình thu gom hiện hữu, đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng và các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy xã hội hóa quản lý môi trường đến năm 2025. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp chính quyền địa phương tối ưu hóa chi phí ngân sách, nâng tỷ lệ thu gom rác thải đạt trên 85% và gia tăng tỷ lệ xử lý hợp vệ sinh lên trên 70% trên toàn địa bàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết hàng hóa công cộng và lý thuyết quản lý chất thải tích hợp bền vững. Bản chất của xã hội hóa trong bảo vệ môi trường là quá trình chuyển dịch cơ chế hoạt động, phân chia trách nhiệm và huy động tổng lực các nguồn lực tài chính, nhân lực, công nghệ từ cộng đồng, hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân nhằm giảm tải gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Luận văn làm sáng tỏ bốn khái niệm cốt lõi theo tinh thần Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, Nghị định 59/2007/NĐ-CP và Nghị định 38/2015/NĐ-CP: chất thải rắn sinh hoạt, quy trình quản lý chất thải khép kín, cơ chế chi trả theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và mô hình xã hội hóa vệ sinh môi trường tự quản. Ngoài ra, tác giả tiếp thu các bài học kinh nghiệm quốc tế như: mô hình phân cấp thu phí linh hoạt của Singapore với mức phí từ 7 đến 17 đô la Singapore mỗi tháng; chính sách phân loại rác triệt để tại Nhật Bản giúp giảm lượng rác chôn lấp xuống dưới 5% trong tổng số 55 - 60 triệu tấn rác mỗi năm; cùng mô hình huy động 90% vốn đóng góp từ nhân dân và 10% hỗ trợ từ ngân sách nhà nước tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian từ năm 2014 đến 2016. Về dữ liệu thứ cấp, tác giả khai thác các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Quế Võ, dữ liệu địa chính của Phòng Tài nguyên và Môi trường, cùng hồ sơ vận hành của Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Phố Mới.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với tổng cỡ mẫu điều tra thực địa gồm 90 hộ gia đình (phân bổ đều 30 hộ tại xã Phương Liễu, 30 hộ tại xã Phượng Mao và 30 hộ tại xã Việt Hùng) đại diện cho cả nhóm hộ kinh doanh và hộ thuần nông. Bên cạnh đó, tác giả phỏng vấn sâu 20 cán bộ chuyên trách, bao gồm 02 cán bộ thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quế Võ, 12 nhân sự thuộc Hợp tác xã vệ sinh môi trường Phố Mới và 06 cán bộ quản lý môi trường cấp xã. Phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh liên thời gian trên phần mềm Excel được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc đối chiếu sự biến động khối lượng rác, đo lường năng lực tài chính và phản ánh chính xác sự khác biệt về nhận thức của người dân giữa các vùng công nghiệp và nông thôn thuần túy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bức tranh thực trạng quản lý rác thải tại huyện Quế Võ với các số liệu thực chứng rõ ràng:

Thứ nhất, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh toàn huyện đạt 102,5 tấn/ngày (tương đương 102.500 kg/ngày). Trong đó, nguồn thải từ khu dân cư chiếm tỷ trọng áp đảo với 77.490 kg/ngày (đạt 75,6%), tiếp đến là rác thải từ hệ thống chợ và khu thương mại với 18.500 kg/ngày (chiếm 17,55%), khu vực cơ quan công sở phát sinh 2.665 kg/ngày (chiếm 2,6%), trong khi các cơ sở y tế và doanh nghiệp lần lượt chiếm 2,1% và 1,55%.

Thứ hai, mạng lưới thu gom xã hội hóa đã bước đầu hình thành với sự tham gia của 01 hợp tác xã dịch vụ môi trường tại thị trấn Phố Mới và các tổ, đội vệ sinh môi trường tự quản tại 20 xã. Tuy nhiên, hoạt động phân loại rác tại nguồn gần như chưa được thực hiện; có tới trên 80% hộ gia đình nông thôn vẫn gom chung rác hữu cơ và vô cơ vào một thùng chứa.

Thứ ba, sự tăng trưởng kinh tế nhanh với thu nhập bình quân đầu người tăng từ 33,60 triệu đồng/năm (2014) lên 39,96 triệu đồng/năm (2016) và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống mức 2,8% đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn lực tài chính từ nhân dân. Dù vậy, mức thu phí vệ sinh môi trường hiện hành vẫn còn thấp và chưa bù đắp được chi phí vận chuyển, xử lý thực tế.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của lượng rác thải sinh hoạt bắt nguồn từ áp lực gia tăng dân số cơ học khi hơn 17.000 công nhân đổ về làm việc tại các khu công nghiệp Quế Võ 1, 2 và 3. Tại các xã tập trung đông nhà trọ như Phương Liễu và Phượng Mao, lượng rác phát sinh cục bộ đã vượt quá công suất vận chuyển của các tổ vệ sinh thôn xóm. Cơ chế quản lý hiện nay vẫn phụ thuộc phần lớn vào sự trợ cấp ngân sách cấp xã và huyện, dẫn đến thiếu thốn trang thiết bị thu gom chuyên dụng.

Khi so sánh với các đô thị lớn trong nước và quốc tế, huyện Quế Võ vẫn đang ở giai đoạn đầu của tiến trình xã hội hóa. Việc xử lý rác hiện thời chủ yếu dựa vào chôn lấp hở và đốt thủ công, gây lãng phí quỹ đất và ô nhiễm thứ cấp. Để trực quan hóa các phát hiện này cho việc hoạch định chính sách, dữ liệu nghiên cứu có thể được thiết lập thành biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu nguồn thải (75,6% từ dân cư và 17,55% từ chợ), cùng biểu đồ cột nhóm so sánh tỷ lệ thu gom thực tế giữa xã phát triển công nghiệp (Phương Liễu đạt trên 90%) so với xã thuần nông (Việt Hùng chỉ đạt khoảng 65 - 70%). Cách trình bày này giúp các cấp quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nghẽn hạ tầng theo từng phân vùng địa lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Quế Võ trong giai đoạn 2018 - 2025, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế tài chính và ban hành biểu giá dịch vụ môi trường mới. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh cần điều chỉnh mức thu phí vệ sinh môi trường theo khối lượng xả thải thực tế trước năm 2020. Mục tiêu là nâng tỷ lệ đóng góp của người dân và doanh nghiệp lên mức đảm bảo tự chủ 80 - 90% chi phí vận hành cho các hợp tác xã và tổ đội thu gom, giảm trợ cấp ngân sách trực tiếp.

Thứ hai, đổi mới công tác truyền thông và giáo dục học đường. Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Huyện đoàn Quế Võ đưa nội dung phân loại rác tại nguồn vào chương trình giảng dạy chính khóa tại 100% các trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở (gồm 51 trường đã đạt chuẩn quốc gia) từ năm 2019. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ dân hiểu và thực hành phân loại rác đạt trên 70% vào năm 2022.

Thứ ba, khuyến khích phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã dịch vụ môi trường chuyên nghiệp. Ủy ban nhân dân huyện Quế Võ cần triển khai các chính sách ưu đãi về tiếp cận vốn vay tín dụng xanh, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và giao đất làm điểm tập kết trung chuyển cho ít nhất 2 đến 3 đơn vị tư nhân đầu tư công nghệ đốt rác phát điện hoặc ủ phân hữu cơ vi sinh, phấn đấu giảm tỷ lệ rác chôn lấp xuống dưới 30% vào năm 2025.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý rác hữu cơ tại hộ gia đình. Hội Nông dân và Hội Phụ nữ huyện Quế Võ giữ vai trò chủ trì chuyển giao kỹ thuật sử dụng chế phẩm vi sinh EM cho hơn 21.000 lao động nông nghiệp tại các xã ngoại thành như Việt Hùng, Cách Bi, biến phụ phẩm nông nghiệp và rác hữu cơ thành phân bón sinh học tại chỗ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo giá trị đối với bốn nhóm đối tượng chính sau:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, Ủy ban nhân dân huyện Quế Võ và chính quyền 21 xã, thị trấn. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về 102,5 tấn rác/ngày và bức tranh thực trạng thu gom để xây dựng quy hoạch hạ tầng bảo vệ môi trường, thiết lập quy chế thu phí vệ sinh phù hợp với điều kiện địa phương.

Thứ hai, các hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công ích và môi trường. Đơn vị kinh doanh có thể khai thác các phân tích chi tiết về mô hình tổ chức, định mức lao động và phương thức quản lý vận hành của Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Phố Mới nhằm xây dựng phương án đấu thầu và cung ứng dịch vụ hiệu quả.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý môi trường. Công trình cung cấp bộ khung phương pháp luận khoa học, biểu mẫu điều tra thực tế cho 90 hộ gia đình và 20 cán bộ, cùng hệ thống chỉ tiêu phân tích kinh tế môi trường tại các địa bàn đang trong quá trình chuyển dịch công nghiệp.

Thứ tư, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân cấp cơ sở. Nghiên cứu mang lại các gợi ý hành động cụ thể để xây dựng phong trào tự quản, hương ước thôn xóm, góp phần giúp các xã đạt và duy trì tiêu chí số 17 về môi trường trong chương trình Xây dựng Nông thôn mới.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại huyện Quế Võ có đặc điểm gì nổi bật? Nghiên cứu ghi nhận tổng khối lượng phát sinh đạt 102,5 tấn/ngày vào năm 2016. Trong đó, rác thải từ khu dân cư chiếm tỷ lệ lớn nhất là 75,6% (77.490 kg/ngày), theo sau là chợ và khu thương mại chiếm 17,55% (18.500 kg/ngày). Áp lực rác thải tăng cao chủ yếu do lượng lao động cơ học nhập cư tại 03 khu công nghiệp vượt trên 17.000 người.

Mô hình xã hội hóa nào đang đóng vai trò nòng cốt tại địa bàn nghiên cứu? Huyện Quế Võ đang vận hành song song hai mô hình chính: Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Phố Mới hoạt động tự chủ theo cơ chế thị trường và hệ thống các tổ, đội vệ sinh môi trường dân lập tự quản tại các thôn, xóm do Ủy ban nhân dân cấp xã giám sát với nguồn thu từ phí vệ sinh hàng tháng của các hộ dân.

Quy mô mẫu và phương pháp chọn điểm khảo sát thực địa của đề tài được triển khai ra sao? Tác giả đã chọn 04 địa bàn đại diện (thị trấn Phố Mới, xã Phương Liễu, xã Phượng Mao, xã Việt Hùng) để khảo sát trực tiếp 90 hộ dân chia theo nhóm hộ kinh doanh và không kinh doanh, cùng phỏng vấn sâu 20 cán bộ quản lý môi trường từ cấp huyện đến cơ sở nhằm đảm bảo tính đại diện cao.

Kinh nghiệm quốc tế nào có tính ứng dụng cao nhất cho thực tiễn quản lý rác tại Quế Võ? Bài học giáo dục ý thức phân loại rác từ bậc tiểu học của Nhật Bản và cơ chế phân cấp thu phí linh hoạt (7 - 17 SGD/tháng) của Singapore là những kinh nghiệm hoàn toàn có thể áp dụng vào chiến lược truyền thông và xây dựng biểu giá dịch vụ môi trường tại huyện Quế Võ.

Giải pháp tài chính nào giúp giảm gánh nặng bao cấp từ ngân sách nhà nước? Giải pháp then chốt là chuyển từ cơ chế phí mang tính bao cấp sang cơ chế giá dịch vụ vệ sinh môi trường tính đúng, tính đủ theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả, từ đó giúp các đơn vị thu gom tự chủ từ 80 - 90% chi phí vận hành thường xuyên.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ những luận điểm khoa học và thực tiễn cốt lõi trong công tác quản lý chất thải rắn:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và cơ chế xã hội hóa dịch vụ công ích môi trường tại địa phương đang công nghiệp hóa.
  • Phân tích thực chứng nguồn thải 102,5 tấn/ngày và cấu trúc xả thải tại huyện Quế Võ với dữ liệu chi tiết từ 90 hộ dân và 20 cán bộ chuyên trách.
  • Đánh giá khách quan hiệu quả hoạt động cũng như các điểm nghẽn cơ chế của mô hình hợp tác xã và tổ tự quản môi trường nông thôn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình 2018 - 2025 nhằm hoàn thiện chính sách giá, thu hút doanh nghiệp tư nhân và ứng dụng công nghệ vi sinh.
  • Xác lập lộ trình thực thi rõ ràng, biến trách nhiệm bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ và quyền lợi kinh tế của hơn 157.480 người dân huyện Quế Võ.

Để giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm rác thải sinh hoạt, chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân cần nhanh chóng đồng thuận triển khai đồng bộ các giải pháp xã hội hóa, hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế xanh và bền vững.