MỞ ĐẦU Ngày nay, công nghệ nano đã và đang cuốn hút không chỉ các nhà nghiên cứu khoa học mà còn kể các ngành công nghiệp vì tính ứng dụng cao của nó đối với cuộc sống của con người. Đặc biệt các hạt keo nano kim loại có tính ứng dụng cao trong các ngành kỹ thuật dân dụng như trong sản xuất kính xe, gốm sứ, mỹ phẩm, y tế…[1]. Trong số các hạt keo nano kim loại, hạt keo nano Ag đang và được sử dụng rộng rãi trong những ứng dụng trong lĩnh vực y tế, vì hạt nano kim loại này có tính kháng khuẩn rất cao, không độc và không gây ra dị ứng da đối với cơ thể con người. Hiện nay tại Việt Nam khá nhiều nhà khoa học tập trung tổng hợp các hạt keo nano Ag bằng nhiều các phương pháp khác nhau và đưa ra những ứng dụng cụ thể của nó đến đời sống của con người, có thể kể đến như sau: nhóm của TS.
Nguyễn Quốc Hiến thuộc trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ - Tp Hồ Chí Minh (VINAGAMMA) đã đưa ra sản phẩm chai xịt khử mùi hôi nách bằng công nghệ nano Ag. Tại trung tâm này các hạt nano Ag được tổng hợp bằng cách sử dụng nguồn phóng xạ gamma để tổng hợp ra dung dịch keo nano Ag, hoặc nhóm nghiên cứu của Trung tâm vật liệu - Đại học Khoa học tự nhiên - ĐHQG Hà Nội, đã chế tạo nano Ag bằng phương pháp hóa ướt cũng như sử dụng các phức của muối bạc trong quá trình tổng hợp nhằm ứng dụng diệt khuẩn E.Coli…Tuy nhiên, ứng dụng nano Ag vào trong ngành dệt may để sản xuất ra các vải diệt khuẩn chưa thấy xuất hiện tại Việt Nam. Từ khi có quy định toàn dân đội mũ bảo hiểm, số bệnh nhân bị chấn thương sọ não giảm hẳn, tuy nhiên một vấn đề bất cập xảy ra là số bệnh nhân đến Bệnh viện Da liễu TPHCM để khám những bệnh liên quan đến nấm tóc và da đầu gia tăng đáng kể. Nhiều người do đặc thù công việc phải thường xuyên phải ra ngoài đường suốt từ sáng đến chiều và khi tháo mũ bảo hiểm ra, gàu và tóc rụng khá nhiều.
Theo các bác sĩ chuyên khoa da liễu, gàu là những tế bào chết trên da đầu, gây ngứa và rụng tóc, có màu trắng khô hoặc nhờn phủ bề mặt da đầu và có khả năng lây lan. Gàu gây ra bởi vi khuẩn và nấm, khi đội mũ bảo hiểm nhiều giờ trong điều kiện nắng nóng, da đầu không được thông thoáng, tóc trở nên ẩm ướt vì đẫm nhiều mồ hôi, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm phát triển. Tình trạng này nếu không được khắc phục sớm sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và thẩm mỹ ở cả phụ nữ và nam giới. Với lý do đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này để Luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HVCH:Nguyễn Văn Thuận nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm nhằm phần nào khắc phục những hạn chế mà mũ bảo hiểm gây ra.
Trong luận văn này, dung dịch keo nano Ag được đưa lên nền vải nonwoven nhằm tạo ra các miếng lót diệt khuẩn cho mũ bảo hiểm. Keo nano bạc được tổng hợp bằng phương pháp polyol với sự hỗ trợ nhiệt vi sóng. Sau đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích hoá lý như: UV – Vis, TEM vv… để đánh giá kích thước hạt nano Ag, cũng như xác định độ ổn định của hạt nano Ag theo thời gian. Từ đó, chọn ra dung dịch nano Ag ổn định nhất để cho thực hiện việc ngâm tẩm vải nonwoven.
Tấm vải nonwoven sau khi được ngâm tẩm sẽ được kiểm tra độ bám dính nano Ag trên nền vải bằng kính hiển vi điện tử quét FE - SEM, ICP - AAS đồng thời kiểm tra khả năng diệt khuẩn của nó trên E. Nội dung nghiên cứu của luận văn này bao gồm các mục như sau: Sử dụng phương pháp polyol cho quá trình điều chế dung dịch keo nano Ag với sự hỗ trợ của nhiệt vi sóng và với các khảo sát theo thời gian, công suất lò, nồng độ muối AgNO3. Đồng thởi khảo sát độ ổn định các hạt keo nano bạc và so sánh phương pháp gia nhiệt bằng lò vi sóng với gia nhiệt thông thường. Bên cạnh đó, sử dụng các phương pháp phân tích hóa lý như UV - Vis, TEM để đánh giá chất lượng dung dịch keo nano Ag được điều chế.
Sử dụng phương pháp ngâm tẩm cho quá trình chế tạo vải nonwoven chứa các hạt Ag. Sử dụng phương pháp phân tích như FE - SEM, ICP - ASS đánh giá độ bám dính của hạt Ag trên vải. Sử dụng phương pháp đếm khuẩn lạc để đánh giá khả năng diệt khuẩn của tấm vải nonwoven chứa Ag trên hai đối tượng vi khuẩn E. Luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HVCH:Nguyễn Văn Thuận CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN Luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HVCH:Nguyễn Văn Thuận Chƣơng 1: TỔNG QUAN Phần tổng quan giới thiệu một các tổng quát về khái niệm về hạt nano kim loại, cũng như phân loại các dạng hạt nano hiện nay.
Bên cạnh đó, trình bày một các khái quát về các phương pháp tổng hợp ra hạt keo nano Ag, các loại polymer nhằm ổn định độ bền của các hạt keo nano Ag, đồng thời giới thiệu sơ lược về loại vải nonwoven và những ứng dụng của nano Ag vào trong các lĩnh vực, đặc biệt là ứng dụng trong ngành vải sợi.1 Giới thiệu hạt nano 1.1 Khái niệm Theo như Viện Tiêu Chuẩn của Anh, định nghĩa về hạt nano và kích thước nano (nanoscales) [2] như sau: Hạt nano (nanoparticles) là các hạt với một hay nhiều kích thước ở dạng kích cỡ nano.1 trình bày mối quan hệ giữa kích thước nanomet với những vật thể thông thường. Mối quan hệ giữa kích thƣớc nanomet và các các vật thể thông thƣờng [3] 1.2 Phân loại hạt nano Có nhiều cách phân loại hạt nano. Trong phần này, chúng tôi phân loại các loại hạt nano được ứng dụng trong đời sống theo các nhóm như: nano vô cơ, nano polymer, nanotube, tinh thể nano, hạt nano rắn lipid. Tất cả các loại hạt nano được mô tả như trong hình vẽ 1.
Luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HVCH:Nguyễn Văn Thuận Hình 1. Các loại hạt nano [4] a. Hạt nano vô cơ [ 5, 6, 7] Các hạt vô cơ cấu trúc nano có kích thước, hình dạng và lỗ xốp khác nhau được tạo ra từ kim loại, oxit kim loại. Đặc điểm nổi bật nhất của các hạt nano vô cơ là khả năng dễ chế tạo và tính ứng dụng cao.
Hạt nano vô cơ có hai tính chất khác với vật liệu khối bao gồm: hiệu ứng bề mặt và hiệu ứng kích thước. Hiện nay, nhiều nghiên cứu về các hạt nano kim loại và nano oxit kim loại, điển hình có thể kể ra như sau: nano Ag với đặc tính kháng khuẩn và dẫn điện tốt, được ứng dụng nhiều trong việc bảo vệ môi trường và trong lĩnh vực vi mạch. Tương tự, các hạt nano TiO2 pha anatase với đặc tính xúc tác quang tốt, được ứng dụng để phủ lên gạch men, kính nhằm diệt khuẩn và chống mờ. Hạt nano polymer [4, 8] Các hạt nano polymer được hình thành từ quá trình cắt đứt và phân hủy mạch polymer dạng dài về dạng kích thước nano.
Ứng dụng chủ yếu của các polymer nano là làm chất nền cho quá trình dẫn truyền thuốc. Một vài loại nano polymer như: chitosan, gelatin, poly(lactic – co – glycolic acid),. Hai đặc điểm nổi bật nhất của cấu trúc nanotube bao gồm: thể tích bên trong lớn và bề mặt bên ngoài có thể dễ dàng tạo gắn kết. Hiện nay trong lĩnh vực thuốc và y tế, nhiều nhà khoa học đang nghiên cứu khả Luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HVCH:Nguyễn Văn Thuận năng ứng dụng nanotube trong quá trình dẫn truyền thuốc.
Tuy nhiên một nghiên cứu mới nhất cho rằng: nanotube có tính độc tố và có thể là nguyên nhân giết các tế bào bằng con đường oxy hóa. Chính điều này, các nghiên cứu hiện nay đang mở rộng ra và tập trung vào vấn đề độc tố trong nanotube. Tinh thể nano (nanocrystals)[4] Tinh thể nano là sự kết hợp các phân tử lại để hình thành tinh thể có kích thước nano. Các tinh thể nano được ứng dụng rộng rãi trong ngành vật liệu, kỹ thuật hóa học như các chấm lượng tử (quantum dot) trong hình ảnh sinh học.
Một thí dụ về khả năng ứng dụng mới nhất của tinh thể nano trong dẫn truyền thuốc là tổng hợp tinh thể nano từ hợp chất hydrophobic với lớp phủ là một màng mỏng hydrophilic. Những phản ứng sinh hóa của tinh thể nano loại này phụ thuộc mạnh mẽ vào lớp màng hydrophilic. Mục đích của lớp màng này giúp ngăn ngừa khả năng kết tụ của tinh thể và làm tăng khả năng dẫn truyền thuốc. Các kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng dẫn truyền thuốc của tinh thể nano này theo đường uống và đường tiêm đều có kết quả rất tốt, đồng thời không xảy ra biến chứng.
Hạt nano rắn lipid (solid liqid nanoparticles)[10, 11] Các hạt lipid rắn là những lipid - nền tảng cấu thành từ những chất dẫn truyền thuốc dạng keo. Chúng được tạo ra ở những năm đầu 1900, nhằm thay thế các các hạt mỡ (liposomes) và nhũ tương (emulsion) trong ngành dược. Ưu điểm của các hạt nano lipid dạng rắn này là chúng có độ ổn định cao hơn so với liposome trong hệ thống sinh học, bởi vì độ cứng của lõi trong hạt nano rắn lipid này chứa đựng hydrophobic lipid - dạng rắn và rất ổn định ở nhiệt độ phòng. Bên cạnh đó, chúng dễ dàng phân hủy sinh học, ít độc hơn so với các hạt vô cơ và polymer và có thể kiểm soát các thông số động học dược.
Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp ra ba loại hạt nano rắn hydrophobic như sau: đồng nhất (homogonous matrix), lõi là hydrophobic - thuốc vỏ bọc (drug enrich shell), lõi là thuốc - vỏ bọc là hydrophobic (drug enrich core). Để chế tạo ra các hạt nano lipid dạng rắn, hiện nay có hai công nghệ đang được ứng dụng khá rộng rãi là: kỹ thuật đồng nhất áp suất cao được phát minh bời Muller và Luck và kỹ thuất nhũ tương được phát minh bởi Gasco. Ứng dụng chính của hạt nano rắn dạng lipid được dùng để dẫn truyền thuốc, hoặc làm làm chất mang cho các thuốc đắp tại chỗ. Luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HVCH:Nguyễn Văn Thuận 1.2 Giới thiệu hạt nano Ag 1.