Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Nguyễn Xuân Mai với đề tài "Xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật" (Mã số: 62.01) được thực hiện tại Khoa Sư phạm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Minh Đường và PGS. Phan Văn Kha. Bản luận án có dung lượng 231 trang, gồm 167 trang nội dung chính và 64 trang dành cho mục lục, danh mục bảng biểu, hình vẽ, công trình của tác giả, tài liệu tham khảo cùng các phụ lục đính kèm.
Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế theo các định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định giáo dục và đào tạo là động lực quan trọng, đồng thời đặt ra mục tiêu nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề lên khoảng 40% vào năm 2010 (tăng hơn hai lần so với quy mô hiện hữu tại thời điểm nghiên cứu). Nghị quyết số 37 của Quốc hội cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ giáo viên có chất lượng, đủ số lượng và đồng bộ về cơ cấu ngành nghề lẫn trình độ.
Tuy nhiên, công tác đào tạo giáo viên dạy nghề ở thời điểm năm 2006 bộc lộ nhiều điểm bất cập nghiêm trọng mà mô hình đào tạo truyền thống không thể giải quyết:
- Về mô hình: Tuyển sinh học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông để đào tạo trong 3 năm thành giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng với mục tiêu vừa đạt tay nghề công nhân kỹ thuật bậc 4/7, vừa là nhà sư phạm, vừa là nhà kỹ thuật là phương án không bảo đảm chất lượng.
- Về số lượng: Theo số liệu của Tổng cục Dạy nghề năm học 2003-2004, tỉ lệ giáo viên trên học sinh là 1/28, chỉ đạt một nửa so với định mức chuẩn quy định (1 giáo viên / 15 học sinh).
- Về cơ cấu ngành nghề: Hệ thống dạy nghề đang đào tạo 186 nghề khác nhau, nhưng hệ thống các trường sư phạm kỹ thuật chỉ đào tạo giáo viên cho 21 nghề (chủ yếu tập trung ở nhóm ngành cơ khí, điện, điện tử, công nghệ thông tin). Toàn bộ 165 ngành nghề còn lại cùng các ngành nghề kỹ thuật mới xuất hiện hoàn toàn chưa có cơ sở nào đảm nhiệm đào tạo giáo viên.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Chưa có nghiên cứu lý luận và thực tiễn nào thiết kế hoàn chỉnh một mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề nhằm giải quyết đồng thời bài toán về thời gian, chất lượng kỹ năng thực hành và mở rộng ngành nghề đào tạo.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật và đề xuất các biện pháp cần thiết để triển khai đào tạo theo mô hình này nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và ngành nghề đào tạo giáo viên dạy nghề.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 4 nội dung:
- Xây dựng cơ sở lý luận về mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật.
- Đánh giá thực trạng về đội ngũ giáo viên dạy nghề và công tác đào tạo giáo viên dạy nghề hiện nay.
- Xây dựng mô hình đào tạo giáo viên dạy nghề liên thông từ công nhân kỹ thuật.
- Xây dựng chương trình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề hàn từ công nhân kỹ thuật nghề hàn và tiến hành đào tạo thí điểm.
Giả thuyết khoa học của luận án nêu rõ: Các trường sư phạm kỹ thuật hiện chỉ đào tạo được giáo viên cho 21 nghề trong tổng số 186 nghề, trong khi thời gian đào tạo 3 năm đối với học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông không bảo đảm chất lượng. Nếu thực hiện đào tạo giáo viên dạy nghề theo mô hình liên thông từ công nhân kỹ thuật được đề xuất thì sẽ góp phần phát triển quy mô, mở rộng ngành nghề cũng như nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên dạy nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển dạy nghề trong thời gian tới.
Luận án dựa trên 3 luận điểm nghiên cứu then chốt:
- Người giáo viên dạy nghề trước hết phải là người có phẩm chất và năng lực của người công nhân kỹ thuật; không thể hoàn thành nhiệm vụ nếu thiếu kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp của công nhân kỹ thuật.
- Đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật là giải pháp tối ưu và là điều kiện tiên quyết để nhanh chóng đào tạo đội ngũ giáo viên đông đảo, đồng bộ cơ cấu và bảo đảm chất lượng.
- Đào tạo liên thông là tiền đề cần thiết để đổi mới triết lý từ học một lần sang triết lý học suốt đời, tạo điều kiện cho người lao động nâng cao trình độ hoặc chuyển đổi nghề nghiệp.
Khách thể, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình đào tạo giáo viên dạy nghề.
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào loại hình giáo viên dạy nghề tích hợp (dạy được cả lý thuyết lẫn thực hành) nhằm tương thích với các chương trình mô đun của Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề.
- Phạm vi trình độ: Trình độ cao đẳng sư phạm kỹ thuật.
- Phạm vi thực nghiệm: Xây dựng chương trình và đào tạo thí điểm một lớp giáo viên dạy nghề hàn trình độ cao đẳng từ công nhân kỹ thuật nghề hàn đã có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả phân chia rõ ràng theo hai bình diện quốc tế và trong nước:
Trên bình diện quốc tế, tác giả khảo sát mô hình đào tạo giáo viên dạy nghề tại các quốc gia tiêu biểu:
- Cộng hòa Liên bang Đức: Giáo viên dạy nghề được đào tạo chính quy thống nhất tại các khoa sư phạm kỹ thuật thuộc trường đại học. Điều kiện bắt buộc là người học phải có chứng chỉ nghề từ trước và sau khi hoàn thành chương trình phải trải qua 2 năm làm việc thực tế với nghề mới được cấp bằng.
- Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Nguồn tuyển sinh chủ yếu là người tốt nghiệp từ các trường cao đẳng cộng đồng, trường kỹ thuật, trường đại học kỹ thuật, sau đó được đào tạo bổ sung khối kiến thức sư phạm học.
- Australia: Kết hợp giữa đào tạo chính quy tại các khoa sư phạm kỹ thuật của các đại học (Monash, Newcastle, Melbourne, Sydney) với việc tuyển dụng người có trình độ tay nghề và kinh nghiệm sản xuất từ các ngành công nghiệp, sau đó đào tạo chuẩn hóa nghiệp vụ sư phạm theo hình thức tại chức trong 2 năm hoặc học tập trung trong 1 năm (22 giờ/tuần).
- Malaysia: Bộ Giáo dục quản lý các khóa đào tạo giáo viên tại trường cao đẳng với tỉ lệ 40% lý thuyết và 60% thực hành (gồm 17 tuần thực tập tại xí nghiệp và 14 tuần thực tập giảng dạy).
- Philippines: Đào tạo ban đầu 4 năm tại đại học sư phạm kỹ thuật hoặc 5 năm tại đại học kỹ thuật; giáo viên thực hành đào tạo trong 3 năm; kỹ sư chuyển sang dạy học phải học bổ sung các khóa sư phạm học.
Về lý luận phát triển giáo dục nghề nghiệp quốc tế, tác giả trích dẫn khuyến cáo của UNESCO qua báo cáo "Học tập: của cải nội sinh" với 4 trụ cột giáo dục (Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình); các quan điểm của Lynch (1997) về 5 nguyên tắc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề tích hợp lý thuyết - thực hành; yêu cầu kỹ năng kỹ thuật của Tozer và Nelson (1988); quan niệm dung hòa lao động trí óc và lao động chân tay của Sharp (1996); cùng nguyên tắc "cấu trúc - thiết kế" của Miller (1996).
Trong nước, tác giả điểm lại các nghiên cứu từ thập niên 1970-1980 đến thời điểm năm 2006:
- Các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề và các trường sư phạm kỹ thuật: Nguyễn Hùng Sinh, Trần Ngọc Chuyên, Hoàng Xuân Quý nghiên cứu về mô hình nhân cách, mô hình hoạt động và năng lực của người giáo viên dạy nghề.
- Các đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước: Đề tài 52VB-10.01 (năm 1988 và 1989) nghiên cứu về kỹ năng lao động chung và phương pháp dạy thực hành; Đề tài cấp Nhà nước 52-VNN-03 nghiên cứu cải tiến mục tiêu, nội dung giáo dục nghề nghiệp; Đề tài cấp Bộ B99-52-36 năm 2000 do Nguyễn Đức Trí chủ nhiệm về "Xây dựng mô hình giảng viên kỹ thuật ở trình độ Đại học cho các trường THCN - DN".
- Giáo trình và tài liệu lý luận: Cuốn sách "Sư phạm kỹ thuật" (2002) của Trần Khánh Đức phân tích hệ thống lý luận từ mục tiêu, nội dung đến quản lý chất lượng đào tạo sư phạm kỹ thuật.
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Đỗ Huân (1994), Bùi Văn Quân (2001), Trần Hùng Lượng (2002), Phan Chính Thức (2003).
- Dự án ADB-VIE-TA 3063 "Nâng cao năng lực GDKT&DN" do Nguyễn Minh Đường triển khai, giới thiệu quy trình phát triển chương trình theo phương pháp phân tích nghề DACUM cho 3 cấp trình độ công nhân kỹ thuật.
- Các hội thảo chuyên đề trong nước và quốc tế: Hội thảo tại Bắc Giang (tháng 1/2001), Nghệ An (tháng 9/2002), Hà Nội (tháng 12/2004) với các báo cáo của Đỗ Minh Cương, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Khôi, Võ Thanh Bình; cùng các hội thảo phối hợp với tổ chức quốc tế GTZ (tháng 3/2004) và InWEnt (tháng 12/2002).
Về nghiên cứu đào tạo liên thông, tác giả đánh giá:
- Đề tài cấp Bộ năm 1997 chỉ so sánh hai trình độ đại học và cao đẳng sư phạm đơn thuần ở các ngành khoa học cơ bản (Toán, Lý, Hóa, Văn, Sử), khái niệm liên thông chưa rõ ràng.
- Hội thảo đào tạo liên thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 10/2001 (tham luận của Nguyễn Đại Thành, Hồ Ngọc Vinh, Bùi Văn Ga, Tạ Xuân Tề, Hồ Thanh Phương, Đinh Xuân Phú) và Quyết định 49/2002/QĐ-BGD&ĐT chỉ đề cập đến liên thông dọc một ngành theo các bậc học, chưa giải quyết liên thông ngang chuyển đổi nghề.
- Chương trình 3 cấp trình độ của Dự án ADB-VIE-TA 3063 tuy đã phân chia mô đun nhưng khối kiến thức đại cương chưa được mô đun hóa, gây trở ngại khi ghép nối chương trình liên thông.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Đề tài của tác giả là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện việc kết hợp liên thông dọc (nâng từ trình độ công nhân kỹ thuật lên cao đẳng) và liên thông ngang (chuyển đổi tính chất nghề nghiệp từ công nhân kỹ thuật sang giáo viên dạy nghề tích hợp), đi từ khung lý luận, thiết kế chương trình chuyển tiếp đến kiểm chứng thực nghiệm sư phạm đối chứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án làm rõ các khái niệm công cụ định hình khung nghiên cứu:
- Đào tạo nghề (Dạy nghề): Được tác giả tiếp cận dưới góc độ thị trường lao động, là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động để có cơ hội tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm.
- Đào tạo liên thông: Dựa trên Quyết định số 49/2002/QĐ-BGD&ĐT, đào tạo liên thông cho phép công nhận và chuyển đổi kết quả học tập của người học giữa các trình độ hoặc giữa các ngành trong cùng trình độ. Luận án phân định hai dạng: liên thông dọc (kế thừa trình độ từ thấp lên cao trong cùng lĩnh vực) và liên thông ngang (chuyển đổi chuyên môn, ngành nghề mà khối lượng kiến thức đã học được thừa nhận). Đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật là mô hình tích hợp cả liên thông dọc lẫn liên thông ngang.
- Giáo viên dạy nghề: Căn cứ Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005, nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên. Luận án nhấn mạnh việc phân định rạch ròi giữa giáo viên dạy nghề (dạy lý thuyết chuyên ngành, thực hành hoặc tích hợp cả hai) với giáo viên giảng dạy các môn văn hóa, đại cương trong trường nghề.
- Công nhân kỹ thuật: Người đã tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề, sở hữu năng lực hành nghề (Competency) cấu thành từ ba yếu tố: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skill) và Thái độ (Attitude). Luận án tổng hợp các cấp bậc thợ theo Quyết định 48/2002/QĐ-TTg, Dự án ADB-VIE-TA 3063 (bán lành nghề, lành nghề, trình độ cao), Luật Giáo dục 2005 (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng nghề) và hệ thống phân bậc thợ thực tế (bậc 3/7).
- Quản lý và mô hình đào tạo: Dẫn luận các quan niệm của Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Minh Đạo để xác định 4 chức năng quản lý: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra. Vận dụng quan niệm của Nguyễn Đức Trí và Nguyễn Tiến Đạt để định nghĩa mô hình đào tạo là cấu trúc tổng hòa bao gồm: Đầu vào, Đầu ra, Phương thức đào tạo, Chương trình đào tạo, Hình thức tổ chức đào tạo và Quản lý đào tạo.
Về phương thức đào tạo, tác giả so sánh chi tiết phương thức đào tạo niên chế truyền thống và đào tạo theo học chế tín chỉ:
- Niên chế: Kế hoạch cứng nhắc, phân bố môn học tuần tự từ khoa học cơ bản, kỹ thuật cơ sở đến chuyên môn và thực hành; không công nhận kiến thức kỹ năng tích lũy trước đó, gây trở ngại cho việc liên thông.
- Học chế tín chỉ / mô đun: Cấu trúc hóa chương trình thành các đơn vị học phần và mô đun độc lập, không trùng lặp; người học tích lũy tín chỉ linh hoạt, học chuyển đổi và công nhận giá trị tương đương mà không phải học lại, phù hợp với giáo dục thường xuyên và học suốt đời.
Về hình thức tổ chức đào tạo, luận án phân tích 5 hình thức: Đào tạo tại trường, đào tạo tại xí nghiệp, đào tạo kèm cặp, đào tạo song hành (kết hợp trường - doanh nghiệp theo mô hình CHLB Đức) và hình thức tổ chức đào tạo hỗn hợp.
Phương pháp tiếp cận:
- Tiếp cận hệ thống: Đặt hệ thống sư phạm kỹ thuật trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống giáo dục quốc dân (giáo dục phổ thông cung cấp đầu vào, giáo dục đại học định chuẩn nguyên tắc quy chế) và hệ thống kinh tế - xã hội (thị trường lao động, khoa học công nghệ xác định mục tiêu chuẩn đầu ra).
- Tiếp cận thị trường: Xem giáo dục nghề nghiệp tuân thủ các quy luật giá trị, cung cầu và cạnh tranh; lấy nhu cầu tuyển dụng giáo viên dạy nghề của các cơ sở dạy nghề làm căn cứ định chuẩn.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp văn bản pháp quy, tài liệu khoa học để xây dựng khung lý thuyết.
- Phương pháp mô hình hóa: Xây dựng mô hình khái niệm thông qua phương pháp liên hệ hai giai đoạn (giai đoạn nhận thức hệ thống thực tại và giai đoạn thiết kế mô hình đào tạo mới).
- Phương pháp khảo sát và chuyên gia: Thu thập dữ liệu thực trạng đội ngũ giáo viên dạy nghề, điều tra bảng hỏi về nguyện vọng học tập của học sinh học nghề và công nhân kỹ thuật; xin ý kiến chuyên gia về chương trình đào tạo.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức đào tạo thí điểm lớp giáo viên dạy nghề hàn cao đẳng liên thông từ công nhân kỹ thuật nghề hàn, bố trí lớp đối chứng theo chương trình hiện hành.
- Phương pháp toán học: Sử dụng công cụ thống kê toán để gia công, xử lý và so sánh kết quả thực nghiệm.
Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật (Luật Giáo dục 2005, các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo); số liệu thống kê thực trạng năm học 2003-2004 của Tổng cục Dạy nghề; dữ liệu khảo sát tại các trường dạy nghề và trường sư phạm kỹ thuật; dữ liệu điều tra thực nghiệm lớp thí điểm tại cơ sở đào tạo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật
Chương I tập trung thiết lập hệ thống luận cứ khoa học về giáo dục nghề nghiệp và đào tạo liên thông:
- Khẳng định đào tạo liên thông là giải pháp hiện thực hóa triết lý học tập thường xuyên, học suốt đời của UNESCO trong thời kỳ kinh tế tri thức và công nghệ thông tin.
- Luận giải cơ sở khoa học của đào tạo liên thông dựa trên tính mềm dẻo, linh hoạt và kế thừa. Người học là công nhân kỹ thuật đã có sẵn tay nghề thực tiễn, do đó chương trình không lặp lại việc rèn luyện kỹ năng thực hành nghề căn bản mà chuyển trọng tâm sang bổ sung kỹ thuật chuyên sâu, kỹ năng sư phạm và năng lực quản lý.
- Thiết lập mô hình tổng quát đào tạo liên thông gồm 6 thành tố tương tác: Đầu vào (công nhân kỹ thuật đã có nghề và bằng trung học phổ thông); Đầu ra (giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng có năng lực thực hiện tích hợp lý thuyết và thực hành); Phương thức đào tạo (áp dụng học chế tín chỉ, cấu trúc mô đun hóa); Chương trình đào tạo (xây dựng bằng kỹ thuật phân tích nghề DACUM, tích hợp kiến thức sư phạm và kỹ thuật chuyên ngành); Hình thức tổ chức đào tạo (phối hợp linh hoạt giữa cơ sở sư phạm kỹ thuật và cơ sở sản xuất); Quản lý đào tạo (mềm dẻo trong tuyển sinh, đánh giá và công nhận chứng chỉ chuyển tiếp).
- Phân tích mối quan hệ giữa mô hình hoạt động nghề nghiệp, mô hình nhân cách người giáo viên dạy nghề và mô hình nội dung chương trình đào tạo trình độ cao đẳng.
Chương II: Thực trạng về giáo viên dạy nghề, đào tạo giáo viên dạy nghề ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Chương II phản ánh bức tranh thực trạng đội ngũ giáo viên dạy nghề tại Việt Nam thông qua hệ thống khảo sát định lượng và dữ liệu thống kê:
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng: Năm học 2003-2004, tỉ số giáo viên/học sinh là 1/28, trong khi định mức quy định là 1/15.
- Mất cân đối lớn về cơ cấu ngành nghề đào tạo: Các trường sư phạm kỹ thuật mới chỉ cung ứng giáo viên cho 21 nghề trong tổng số 186 nghề đang được giảng dạy trong hệ thống dạy nghề cả nước (165 nghề không có cơ sở đào tạo giáo viên).
- Đánh giá năng lực đội ngũ: Khảo sát thực tế phản ánh nhiều giáo viên dạy nghề còn hạn chế về năng lực giảng dạy tích hợp (phần lớn chỉ dạy chuyên lý thuyết hoặc chuyên thực hành), trình độ ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu công nghệ mới.
- Điểm lại lịch sử đào tạo giáo viên dạy nghề ở Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 1971: giai đoạn 1971-1974, 1974-1979, 1979-1982, 1982-1988, 1988-1992 và từ 1992 đến thời điểm nghiên cứu; chỉ ra sự thay đổi mô hình qua từng thời kỳ nhưng vẫn chưa định hình được phương thức liên thông ngang kết hợp liên thông dọc bền vững.
- Tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế về việc gắn kết đào tạo sư phạm trên nền tảng kỹ năng nghề thực tế từ Mỹ, Đức, Australia.
Luận án tổng hợp số liệu thực trạng qua các bảng dữ liệu sau:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng dữ liệu trong luận án |
Nội dung phản ánh chính |
| Bảng 1.1 |
Nguyện vọng của CNKT và học sinh học nghề |
Tỉ lệ người học có nguyện vọng học liên thông nâng cao trình độ |
| Bảng 2.1 |
Số lượng và cơ cấu trình độ GVDN Việt Nam |
Thống kê số lượng giáo viên theo các bậc đào tạo trên toàn quốc |
| Bảng 2.2 |
Cơ cấu GVDN và GV khác trong các trường dạy nghề |
Phân chia tỉ lệ giữa giáo viên dạy nghề và giáo viên dạy môn chung |
| Bảng 2.3 |
Trình độ và cơ sở đào tạo GVDN |
Thực trạng nguồn gốc đào tạo của đội ngũ giáo viên hiện hữu |
| Bảng 2.4 |
Cơ cấu trình độ GV nói chung và GVDN trong các cơ sở DN |
So sánh tương quan trình độ giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp |
| Bảng 2.5 |
Khối lượng kiến thức và thực hành được ĐT ở một số trường |
Tương quan phân bổ thời lượng lý thuyết và thực hành tại các cơ sở |
| Bảng 2.6 |
Năng lực dạy học của GVDN |
Kết quả đánh giá kỹ năng giảng dạy lý thuyết và thực hành nghề |
| Bảng 2.7 |
Năng lực giáo dục của GVDN |
Mức độ thực hiện nhiệm vụ quản lý học sinh và giáo dục phẩm chất |
| Bảng 2.8 |
Trình độ ngoại ngữ của GVDN |
Thống kê chứng chỉ và khả năng sử dụng ngoại ngữ của giáo viên |
| Bảng 2.9 |
Trình độ tin học của GVDN |
Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nghề |
| Bảng 2.10 |
Chỉ tiêu và ngành nghề đào tạo của các trường SPKT |
Quy mô tuyển sinh thực tế hạn chế ở 21 ngành nghề kỹ thuật |
| Bảng 2.11 |
Chương trình đào tạo giáo viên kết hợp 4 năm |
Khung cấu trúc chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề của Mỹ |
| Bảng 2.12 |
Chương trình đào tạo giáo viên (4+1) 5 năm |
Mô hình đào tạo bổ sung 1 năm sư phạm cho cử nhân kỹ thuật của Mỹ |
Chương III: Xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật
Chương III là trọng tâm giải quyết nhiệm vụ xây dựng giải pháp và kiểm chứng thực nghiệm:
- Đề xuất 4 nguyên tắc cốt lõi xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng từ công nhân kỹ thuật:
- Phải tuân thủ Luật Giáo dục và các văn bản pháp quy dưới luật.
- Phải đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt và liên thông với chương trình dài hạn đào tạo công nhân kỹ thuật các trình độ hiện hành.
- Các cơ sở tham gia đào tạo liên thông phải đủ điều kiện đảm bảo chất lượng.
- Các trường sư phạm kỹ thuật với chức năng nhiệm vụ phải là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức, triển khai thực hiện đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề.
- Xác lập cấu trúc khung chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng gồm 5 khối học phần: Kiến thức giáo dục đại cương; Kiến thức cơ sở ngành; Kiến thức chuyên môn ngành; Khối kiến thức sư phạm; Khối kiến thức quản lý.
- Thiết kế chương trình đào tạo liên thông chuyên biệt cho nghề hàn:
- Tiến hành phân tích nghề công nhân kỹ thuật hàn theo phương pháp DACUM.
- Xây dựng ma trận đối sánh giữa chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật với chương trình giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng.
- Thiết kế các chương trình chuyển tiếp tương ứng với từng đối tượng đầu vào: Chương trình chuyển tiếp (1) dành cho đối tượng đã có bằng công nhân kỹ thuật trình độ cao đẳng hàn; Chương trình chuyển tiếp (3) dành cho công nhân kỹ thuật lành nghề hiện tại (bậc 3/7 theo Quyết định 1822/TH-DN) để đạt chuẩn công nhân kỹ thuật lành nghề theo Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề trước khi hoàn thành chương trình sư phạm cao đẳng.
- Triển khai đào tạo thực nghiệm:
- Đối tượng: Học viên là công nhân kỹ thuật nghề hàn, có trình độ văn hóa trung học phổ thông.
- Tiến trình: Lập kế hoạch dạy học, chuẩn bị học liệu, bố trí giảng viên giảng dạy tích hợp và tổ chức đánh giá kết quả học tập.
- Đánh giá thực nghiệm qua Bảng 3.23 (Kết quả đào tạo thí điểm) và so sánh đối chứng tại Bảng 3.24 (So sánh kết quả học tập của lớp thí điểm và lớp đối chứng đào tạo theo mô hình hiện hành). Kết quả khẳng định người học lớp thí điểm đạt năng lực thực hành nghề vững vàng hơn, tiếp thu kiến thức sư phạm thuận lợi và rút ngắn thời gian đào tạo so với việc đào tạo mới từ đầu học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông.
Danh mục bảng biểu kỹ thuật xây dựng chương trình và đánh giá thực nghiệm trong Chương III:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng kỹ thuật / số liệu trong Chương III |
| Bảng 3.1 |
Nhiệm vụ và công việc của người GVDN |
| Bảng 3.2 |
Danh mục các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương |
| Bảng 3.3 |
Các học phần thuộc khối kiến thức sư phạm |
| Bảng 3.4 |
Các học phần thuộc khối kiến thức quản lý |
| Bảng 3.5 |
Kiến thức cơ sở ngành và ngành |
| Bảng 3.6 |
Cấu trúc chương trình đào tạo GVDN cao đẳng theo quyết định số 302/QĐ-CĐSPKTV-ĐT |
| Bảng 3.7 |
Thời lượng đào tạo kỹ năng nghề theo Dự án "Nâng cao năng lực GDKT&DN" |
| Bảng 3.8 |
Cấu trúc các khối kiến thức chương trình đào tạo GVDN trình độ cao đẳng |
| Bảng 3.9 |
Khung chương trình đào tạo GVDN |
| Bảng 3.10 |
Mối liên hệ giữa nhiệm vụ và công việc với các mô đun/môn học của CT đào tạo CNKTTC |
| Bảng 3.11 |
Mối liên hệ giữa nhiệm vụ và công việc với các mô đun/môn học liên thông từ CNKTTC lên CĐ Hàn |
| Bảng 3.12 |
Chương trình đào tạo CNKT trình độ cao đẳng nghề hàn |
| Bảng 3.13 |
Các học phần kiến thức cơ sở của ngành cơ khí |
| Bảng 3.14 |
Các học phần kiến thức kỹ thuật chuyên ngành |
| Bảng 3.15 |
Các học phần kiến thức sư phạm |
| Bảng 3.16 |
Các học phần thuộc kiến thức quản lý |
| Bảng 3.17 |
Các mô đun thực hành |
| Bảng 3.18 |
Cấu trúc chương trình đào tạo GVDN hàn từ người tốt nghiệp THPT (chưa qua đào tạo nghề) |
| Bảng 3.19 |
So sánh và hiệu chỉnh chương trình đào tạo CNKT hàn trình độ CĐ theo Dự án với CT GVDN hàn |
| Bảng 3.20 |
Chương trình chuyển tiếp (1) đào tạo liên thông GVDN hàn trình độ CĐ từ CNKT cao đẳng hàn |
| Bảng 3.21 |
So sánh chương trình đào tạo CNKT 3/7 theo QĐ 1822/TH-DN và chương trình trung cấp nghề |
| Bảng 3.22 |
Chương trình ĐT chuyển tiếp (3) từ CNKT hàn lành nghề hiện tại đạt trình độ CNKT hàn Dự án |
| Bảng 3.23 |
Kết quả đào tạo thí điểm |
| Bảng 3.24 |
So sánh kết quả học tập của lớp thí điểm và lớp đối chứng đào tạo theo mô hình hiện hành |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tổng kết các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:
Về lý luận:
- Góp phần phát triển lý luận về đào tạo theo mô đun và đào tạo liên thông trong hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề tại Việt Nam.
- Xác lập cơ sở khoa học để kết hợp đồng thời hai hướng liên thông: liên thông dọc (nâng bậc trình độ từ công nhân kỹ thuật lên cao đẳng) và liên thông ngang (chuyển đổi chức năng nghề nghiệp từ người lao động sản xuất trực tiếp sang nhà giáo giáo dục nghề nghiệp).
- Xây dựng hoàn chỉnh mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật gồm 6 thành tố gắn kết hữu cơ: đầu vào, đầu ra, phương thức đào tạo, chương trình đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo và quản lý đào tạo.
Về thực tiễn:
- Xây dựng được cấu trúc khung chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng chung cho các ngành kỹ thuật.
- Thiết kế bộ chương trình chi tiết đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề hàn trình độ cao đẳng từ công nhân kỹ thuật nghề hàn, kèm theo các chương trình chuyển tiếp xử lý sự khác biệt giữa các chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật cũ (theo Quyết định 1822/TH-DN) và chương trình mới theo Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề.
- Tổ chức thực nghiệm thành công khóa đào tạo thí điểm cho lớp giáo viên dạy nghề hàn từ công nhân kỹ thuật, chứng minh tính khả thi của mô hình và tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.
- Đề xuất mô hình quản lý và các cơ chế, chính sách liên kết giữa cơ sở sư phạm kỹ thuật với doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề nhằm tạo điều kiện tuyển sinh, công nhận tín chỉ và sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo.
Các kiến nghị đề xuất từ luận án:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Dạy nghề): Cần sớm ban hành quy chế hoàn chỉnh về đào tạo liên thông ngang và liên thông chuyển đổi nghề; công nhận giá trị tương đương của các mô đun kỹ năng nghề do doanh nghiệp và trường nghề đào tạo; hoàn thiện hệ thống văn bằng chứng chỉ tương thích với học chế tín chỉ.
- Đối với các trường sư phạm kỹ thuật: Giữ vai trò nòng cốt, chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp để khảo sát nhu cầu, tổ chức thẩm định văn bằng, xây dựng chương trình chuyển tiếp và thực hiện kiểm định chất lượng đào tạo.
- Đối với doanh nghiệp: Thiết lập cơ chế phối hợp đào tạo, tạo điều kiện cho công nhân lành nghề tham gia các khóa học sư phạm nâng cao để trở thành giáo viên hoặc nghệ nhân kiêm nhiệm giảng dạy.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu loại hình giáo viên dạy nghề tích hợp (giảng dạy đồng thời cả lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề) ở trình độ cao đẳng, chưa mở rộng nghiên cứu sang bậc trung cấp dạy nghề hoặc trình độ đại học sư phạm kỹ thuật.
- Do giới hạn về thời gian và kinh phí, việc thực nghiệm sư phạm chỉ mới triển khai thí điểm trên quy mô một lớp chuyên ngành hàn đối với đối tượng công nhân kỹ thuật đã có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. Việc thực nghiệm chưa thể bao quát 165 ngành nghề còn lại đang thiếu hụt giáo viên trong toàn hệ thống.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu mở rộng mô hình đào tạo liên thông cho các khối ngành kỹ thuật công nghệ khác, đặc biệt là các nghề mới phục vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
- Nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp linh hoạt cho các đối tượng công nhân kỹ thuật lành nghề nhưng chưa hoàn thành chương trình trung học phổ thông (kết hợp bổ túc văn hóa với đào tạo nghiệp vụ sư phạm).
- Tiếp tục hoàn thiện quy trình kiểm định chất lượng mô đun và hoàn chỉnh hệ thống quản lý học chế tín chỉ áp dụng riêng cho đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề.
Giá trị tham khảo
Bản luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp:
- Nhà quản lý và hoạch định chính sách (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Dạy nghề): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy chế đào tạo liên thông trong giáo dục nghề nghiệp, giải quyết bài toán thiếu hụt giáo viên dạy nghề khi mở rộng quy mô mạng lưới trường nghề trên cả nước.
- Ban giám hiệu và phòng đào tạo các trường Sư phạm Kỹ thuật, Cao đẳng Kỹ thuật: Cung cấp quy trình công nghệ xây dựng chương trình chuyển tiếp dựa trên phân tích nghề DACUM, cách thiết kế các mô đun tích hợp lý thuyết - thực hành và phương thức tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ.
- Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giáo dục học, Lý luận và Phương pháp dạy học: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận mô hình hóa trong giáo dục, phương pháp tiếp cận thị trường và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm đối chứng trong dạy nghề.
- Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là hệ thống ma trận so sánh chương trình chuyển tiếp tại Chương III (Bảng 3.10 đến Bảng 3.22) và quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Bảng 3.23 và Bảng 3.24.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỉ lệ giáo viên dạy nghề trên học sinh tại Việt Nam ở thời điểm luận án khảo sát là bao nhiêu và khoảng cách so với định mức chuẩn như thế nào?
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Dạy nghề năm học 2003-2004 được trích dẫn trong luận án, tỉ lệ giáo viên trên học sinh thực tế là 1/28. Mức này chỉ đạt một nửa so với định mức chuẩn nhà nước quy định tại thời điểm đó là 1 giáo viên trên 15 học sinh (1/15), phản ánh tình trạng thiếu hụt trầm trọng số lượng giáo viên dạy nghề trước yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo lao động kỹ thuật.
2. Thực trạng cơ cấu ngành nghề đào tạo giáo viên dạy nghề của các trường sư phạm kỹ thuật tại thời điểm nghiên cứu ra sao?
Toàn hệ thống dạy nghề Việt Nam thời điểm năm 2006 đang tổ chức đào tạo 186 nghề khác nhau. Tuy nhiên, mạng lưới các trường sư phạm kỹ thuật cả nước mới chỉ có năng lực đào tạo giáo viên cho 21 nghề (tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực cơ khí, điện, điện tử và công nghệ thông tin). Toàn bộ 165 ngành nghề còn lại chưa hề có bất kỳ cơ sở nào đảm nhận đào tạo giáo viên.
3. Bản chất của mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật trong luận án được hiểu như thế nào?
Mô hình này là sự kết hợp đồng thời giữa liên thông dọc và liên thông ngang:
- Liên thông dọc: Kế thừa và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật từ bậc thợ công nhân kỹ thuật lên trình độ cao đẳng.
- Liên thông ngang: Chuyển đổi tính chất nghề nghiệp từ người công nhân trực tiếp sản xuất sang người giáo viên dạy nghề tích hợp thông qua việc học bổ sung khối kiến thức sư phạm và quản lý giáo dục.
4. Luận án lựa chọn ngành nghề và đối tượng cụ thể nào để tổ chức đào tạo thực nghiệm thí điểm?
Luận án tiến hành xây dựng chương trình chi tiết và tổ chức đào tạo thí điểm trên một lớp giáo viên dạy nghề hàn trình độ cao đẳng. Đối tượng đầu vào của lớp thí điểm là những công nhân kỹ thuật nghề hàn đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Chương trình tập trung bổ sung các học phần cơ sở kỹ thuật, chuyên ngành nâng cao, khối kiến thức sư phạm kỹ thuật và thực hành giảng dạy tích hợp.
5. Luận án chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm gì của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ khi ứng dụng vào đào tạo nghề?
- Về ưu điểm: Cho phép người học đăng ký học phần linh hoạt theo điều kiện cá nhân; dễ dàng chuyển đổi chuyên môn nghề nghiệp mà không phải học lại các nội dung đã đạt; xây dựng được lịch biểu mềm dẻo phục vụ học vừa làm; công nhận và tích lũy kiến thức kỹ năng sẵn có để rút ngắn thời gian đào tạo; tạo điều kiện thuận lợi cho liên thông và học suốt đời.
- Về nhược điểm: Các khối kiến thức dễ bị phân mảnh, thiếu tính hệ thống liên tục và công tác tổ chức, quản lý quá trình đào tạo phức tạp hơn nhiều so với phương thức đào tạo niên chế cố định.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Mai đã giải quyết vấn đề cấp bách về sự thiếu hụt số lượng và mất cân đối cơ cấu ngành nghề của đội ngũ giáo viên dạy nghề tại Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa. Bằng phương pháp tiếp cận hệ thống và tiếp cận thị trường lao động, tác giả đã xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật kết hợp giữa liên thông dọc nâng cao trình độ và liên thông ngang chuyển đổi nghề nghiệp. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên chương trình giáo viên dạy nghề hàn trình độ cao đẳng đã kiểm chứng tính khả thi của quy trình thiết kế chương trình chuyển tiếp theo học chế tín chỉ mô đun, đặt nền tảng khoa học cho việc nhân rộng mô hình đào tạo giáo viên dạy nghề trong toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp.