LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế, xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, Việt Nam sẽ phải thực hiện mở cửa thị trƣờng cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tƣ nƣớc ngoài, trong đó có thị trƣờng lao động (TTLĐ). Lực lƣợng lao động Việt Nam đang phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn, không chỉ là từ phía nhu cầu về chất lƣợng của các Doanh nghiệp (DN) trong nƣớc, mà sẽ phải cạnh tranh với lực lƣợng lao động qua đào tạo có trình độ cao của các nƣớc trong khu vực, sẽ di chuyển và tham gia vào thị trƣờng việc làm trong nƣớc. Trong Chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 cũng đã khẳng định “phát triển và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao là một khâu đột phá chiến lƣợc”.
Theo đó, việc đẩy mạnh đào tạo nghề nghiệp theo nhu cầu phát triển của xã hội là nhiệm vụ quan trọng. Và cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết, hợp tác và đẩy mạnh sự tham gia của DN trong nƣớc trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp (GDNN) là một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực qua đào tạo nghề nghiệp ở Việt Nam. Thực tế, Luật dạy nghề năm 2006 đã có những chính sách khuyến khích DN tham gia vào dạy nghề. Và gần đây nhất, sự ra đời của Luật GDNN 2014, là một bƣớc đột phá trong thể chế hóa mạnh mẽ chủ trƣơng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung, GDNN nói riêng.
Trong đó quy định về vai trò, nhiệm vụ và quyền lợi của DN khi tham gia vào GDNN đã có những thay đổi đột phá. DN đƣợc thành lập cơ sở GDNN của DN, đƣợc tổ chức đào tạo để cung cấp lao động cho chính DN và cho xã hội. DN đƣợc tham gia vào các hoạt động đào tạo ở cấp vĩ mô và vi mô. Các chi phí của DN khi tham gia đào tạo còn đƣợc trừ để tính thu nhập chịu thuế.
Đây là điểm khuyến khích DN tham gia dạy nghề, tạo động lực tốt hơn cho các địa phƣơng mà công tác xã hội hóa đào tạo nghề còn nhiều hạn chế. Nhƣng sau một thời gian triển khai, sự tham gia của DN vẫn còn mờ nhạt. DN gần nhƣ thờ ơ với hoạt động dạy nghề, mối quan hệ giữa DN và hoạt động dạy nghề rất lỏng lẻo. 11 Sự tham gia của DN vào dạy nghề dừng lại ở hai hình thức phổ biến là thành lập các cơ sở GDNN thuộc DN và nhận học viên vào thực tập ngắn hạn tại DN.
Trên thế giới, nhiều nƣớc đã nghiên cứu, chứng minh vai trò to lớn và thực hiện thành công việc DN tham gia vào GDNN. Điển hình nhƣ ở CHLB Đức, việc kết hợp đào tạo tại trƣờng và DN sản xuất theo mô hình đào tạo kép hay đào tạo song hành là loại hình cơ bản đƣợc áp dụng rộng rãi. Hay tại Nhật Bản, GDNN rất phát triển, trong đó dạy nghề tại DN là một hệ đào tạo chính thức trong hệ thống GDNN. Xuất phát từ thực trạng tham gia của DN vào hệ thống GDNN cũng nhƣ nhu cầu, tầm quan trọng của vấn đề này trong việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực qua đào tạo nghề, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Tăng cƣờng sự tham gia của DN vào GDNN tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Tổng quan nghiên cứu Về sự tham gia của DN vào hệ thống GDNN đã có nhiều công trình nghiên cứu ở cả trong và ngoài nƣớc đƣợc thực hiện. Các công trình ngoài nước Công trình “Promotion of Linkage between Technical and Vocational Education and the World of Work” (Đẩy mạnh sự liên kết giữa giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề với thế giới nghề nghiệp) do tổ chức UNESCO xuất bản năm 1997 với nội dung nêu rõ vai trò của sản xuất liên quan đến việc hƣớng nghiệp kỹ thuật, đào tạo nghề với nhà trƣờng, đề cập trách nhiệm các bên. Công trình đã đề cập vai trò của DN là một nhân tố quan trọng để nâng cao chất lƣợng đào tạo cũng nhƣ tạo việc làm trong thế giới nghề nghiệp cho sinh viên học nghề. Ở CHLB Đức, trong tác phẩm “The German System of Vocational Education” (Hệ thống giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp ở CHLB Đức) năm 1994, tác giả Wolf-Dictrich Greinert đã làm rõ đặc điểm của hệ thống đào tạo song hành, đề cập nội dung, cấu trúc, chính sách, sự kết hợp giữa đào tạo và tuyển dụng công nhân kỹ thuật.
Hệ thống là sự kết hợp đào tạo song song giữa trƣờng nghề và DN, cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của DN trong quá trình đào tạo lao động kỹ thuật. 12 Nhƣ vậy, các nghiên cứu của nƣớc ngoài đã giúp khẳng định vai trò to lớn của DN trong việc đảm bảo chất lƣợng hoạt động GDNN nói chung, và đã phân tích kỹ các mô hình GDNN đƣợc coi là tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, vì các nghiên cứu này đều thực hiện ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển, trong đó hoạt động của DN tƣ nhân trong lĩnh vực GDNN đã khẳng định đƣợc vị trí vững chắc và sự can thiệp của nhà nƣớc trong lĩnh vực này là tối thiểu. Bối cảnh này hoàn toàn khác với Việt Nam, vì đa số các cơ sở GDNN ở nƣớc ta hiện nay vẫn là cơ sở công lập, và ngân sách nhà nƣớc (NSNN) vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các hoạt động GDNN.
Vì thế, cần khảo cứu thêm các nghiên cứu trong nƣớc để tìm hiểu cách tiếp cận và các phát hiện mà những nghiên cứu đó đƣa ra để phục vụ tốt hơn cho luận văn nghiên cứu. Các công trình trong nước Tại Việt Nam, vấn đề DN tham gia vào GDNN đã có những nghiên cứu ở nhiều phƣơng diện khác nhau. Cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu, bài báo khoa học, hội thảo khoa học liên quan hoặc đề cập trực tiếp về vấn đề tham gia của DN vào GDNN. Đề tài “Kết hợp đào tạo tại trường và DN nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ năm 2006 của tác giả Trần Khắc Hoàn đã nêu khá đầy đủ mô hình thực hiện liên kết đào tạo ở các nƣớc.
Tác giả hệ thống hóa lý thuyết, đề xuất phƣơng thức tổng quát kết hợp GDNN tại CSDN và DN, đề xuất các giải pháp quản lý để thực hiện việc kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DN sản xuất. Tuy nhiên, đề tài chƣa đề xuất cơ chế quản lý và thúc đẩy sự tham gia của DN vào GDNN cho phù hợp với điều kiện tại Việt Nam. Tổ chức Hợp tác phát triển Việt Đức đã thực hiện đề tài nghiên cứu về “Vai trò của DN trong tổ chức và quản lý dạy nghề ở Việt Nam” năm 2009, Chủ biên Tiến sĩ Gunnar Specht, PLANCO Consulting GmbH, Hamburg. Nghiên cứu đã nêu ra đƣợc thực trạng hợp tác trong đào tạo nghề hiện nay giữa cơ sở dạy nghề (CSDN) và DN, chất lƣợng đào tạo, đặc biệt trong các CSDN này, thƣờng đƣợc cho là không đáp ứng nhu cầu TTLĐ do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Hình thức hợp tác hiện nay giữa các 13 CSDN và các DN chủ yếu đƣợc thể hiện thông qua việc cung cấp chỗ thực tập cho các học viên. DN và cơ sở đào tạo đánh giá khác nhau về sự phù hợp và tác động của các đợt thực tập, phụ thuộc vào nhận thức khác nhau của họ về thực tế. Tuy nhiên, đề tài chƣa đƣa ra đƣợc khung lý thuyết về vai trò của DN trong dạy nghề, chƣa có đƣợc sự đánh giá mang tính hệ thống, toàn diện về vai trò của DN trong dạy nghề. Báo cáo “Xây dựng cơ chế, chính sách, mô hình liên kết giữa nhà trường và DN trong đào tạo nghề cho người lao động” do TS Phan Chính Thức làm chủ biên, Nhà xuất bản Lao động và xã hội (2010) đã chỉ ra “thực trạng tồn tại trong phát triển dạy nghề ở Việt Nam đó là cơ chế, chính sách dạy nghề chƣa thay đổi kịp với nền kinh tế thị trƣờng, chƣa có chính sách tạo điều kiện cho các tổ chức, DN tham gia dạy nghề, thiếu chính sách hoặc chính sách không đồng bộ, nhất là cơ chế chính sách dạy nghề tại DN”.
Thông qua thực trạng về cơ chế, chính sách mô hình liên kết giữa CSDN và DN trong đào tạo nghề, và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, báo cáo đề xuất một số giải pháp tăng cƣờng liên kết giữa CSDN và DN trong đào tạo nghề, bao gồm các nguyên tắc “liên kết 3C trong đào tạo: Chia sẻ trách nhiệm - Chất lƣợng bảo đảm – Cân bằng lợi ích, 3 mô hình đào tạo nghề bao gồm mô hình CSDN (ngoài DN), mô hình CSDN trong DN và mô hình DN trong CSDN.” Tuy nhiên, các giải pháp này chƣa đƣợc thực thi trong thực tiễn do việc thiếu phƣơng pháp kết nối, một cam kết thực hiện của các bên có liên quan. Đề tài “Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội” luận án tiến sĩ năm 2011 của tác giả Phan Minh Hiền đã nghiên cứu sâu về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội và đƣa ra kết luận: đào tạo nghề phải chuyển mạnh từ hƣớng cung sang hƣớng cầu, cần thực hiện các giải pháp quản lý đào tạo nghề ở tầm vĩ mô nhƣ phát triển hệ thống thông tin đào tạo nghề, xây dựng cơ chế quản lý hợp tác đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý đào tạo nghề. Tuy nhiên, đề tài chƣa chú trọng vào giải pháp thúc đẩy sự tham gia đóng góp của DN vào dạy nghề, nhằm nâng cao hiệu quả cho đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến GDNN tại các DN sản xuất, các giải pháp nâng cao chất lƣợng 14 GDNN đáp ứng nhu cầu xã hội, trong đó đã đề cao sự tham gia của DN vào GDNN.
Tuy nhiên, chƣa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về đánh giá vai trò của DN trong GDNN, các yếu tố ảnh hƣởng, các rào cản khiến cho DN chƣa hứng thú với GDNN đặc biệt trong điều kiện cơ chế chính sách mới, cũng nhƣ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Do vậy, nghiên cứu “tăng cƣờng sự tham gia của DN vào GDNN tại Việt Nam” đảm bảo là hƣớng tiếp cận mới không bị trùng lặp với các nghiên cứu hiện có.