CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Kiểm tra, đánh giá được hình thành khá sớm cùng với việc xuất hiện của xã hội loài người. Trong các thời đại ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, đã sử dụng các phép thử để chọn tướng, dùng người, … và được miêu tả cụ thể trong Tam Quốc Chí.
Trong các truyện dân gian việc kén rể, kén vợ, chọn dâu hiền, tôi trung xảy ra phổ biến, người ta còn tổng kết thành tục ngữ, ca dao, các câu thành ngữ. Theo Trần Trọng Thủy, từ những năm 2000 trước Công nguyên, người Trung Hoa đã dùng trắc nghiệm trí tuệ để chọn thê thiếp hoặc người hầu. Việc kiểm tra, đánh giá thông thường có thể qua đối đáp, thi nấu ăn, dệt vải, thi đấu võ, thi viết. Trong các trường học Việt Nam và Trung Quốc thời xưa, bài viết được đánh giá qua các buổi bình văn, hoặc do quan trường chấm bài, một số kỳ thi quan trọng Vua cũng tham gia chấm bài.
Sự cải tiến các chương trình kiểm tra đánh giá xuất hiện từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước. Ở giai đoạn này, kiểm tra đánh giá đã có các tiêu chí, công cụ, chương trình có sự hỗ trợ của kỹ thuật. Ở Việt Nam Lịch sử khoa cử ở Việt Nam được hình thành khá sớm, các cuộc thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kỳ. Năm 1070 vua Lý Thái Tông cho lập Văn Miếu, và từ đó việc học có bài bản hơn.
Người ta xem Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam. Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075, đời vua Lý Thái Tông. Chế độ khoa cử thời phong kiến bắt 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com buộc sĩ tử phải trải qua ba kỳ thi để đạt học vị cao nhất: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Thi cử thời phong kiến có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắt khe, bất công, nhưng cũng đào tạo được nhiều trí thức tài giỏi, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
Song, giáo dục Nho học không tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của nhân dân. Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu những bước đi đầu tiên và phát triển. Vấn đề kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh đã có nhiều biến đổi căn bản so với chế độ xã hội cũ.
Trong nhiều năm trở lại đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước hoạt động nghiên cứu lý luận về vấn đề này ngày càng được nâng lên tầm cao mới. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về chất lượng thi, kiểm tra – đánh giá nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người trong thời kỳ phát triển. Dưới đây là một số tài liệu nghiên cứu về kiểm tra – đánh giá của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam: * Nguyễn Đức Chính, Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2008. * Nguyễn Đức Chính – Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2005.
* Nguyễn Công Khanh, Đánh giá và đo lường trong giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004. * Trần Khánh Đức, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2006. * Đặng Bá Lãm, Kiểm tra – đánh giá trong dạy - học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2003. * Lâm Quan Thiệp, Đo lường đánh giá trong giáo dục, 2003.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb Khoa học xã hội, 2005. Để nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại trường THCS Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, đã có một số đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý công tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh. Do vậy, đề tài: "Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường THCS Ngô Quyền thành phố Hải Phòng" là vấn đề mang tính cấp thiết trong công tác đào tạo tại trường trong giai đoạn hiện nay.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia, mọi thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại.
Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua quản lý. Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động của những khí quản độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [11, tr. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động. Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm: Theo F.Taylo (1856 – 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [10, tr. Henri Fayol (1841 – 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [10, tr.
Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng “Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các nhân hướng vào mục tiêu tổ chức – Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất”[11, tr. Theo Mary Parker Follett (Mỹ): “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”, “…Trong quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm …”[11, tr. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau: Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” [29]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[11] Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”.
Nếu người đứng đầu trong một tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Do vậy, người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” luôn phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn luôn ở trạng thái cân bằng động. Như vậy, từ cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung: Quản lý là quá trình hoạt động lao động có mục đích để điều khiển lao động. Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Liên quan tới môi trường xác định. Từ các dấu hiệu chung đó, có thể khái quát như sau: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi. Biện pháp quản lý Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể quản lý đã đề ra phù hợp với quy luật khách quan, nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đề ra. Biện pháp quản lý đòi hỏi tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý.