Chương 1: Tổ chức , nhiê ̣m vụ và quyề n ha ̣n của Ủy ban Tư pháp của Quố c hội. Chương 2: Thực tra ̣ng hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội. Chương 3: Mô ̣t số kinh nghiê ̣m và kiế n nghi nhằ ̣ m nâng cao hiê ̣u quả về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp của Quố c hô ̣i trong thời gian tới. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔ CHƢ́C, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN TƢ PHÁP CỦA QUỐ C HỘI 1.
VỀ SỰ CẦN THIẾT THÀNH LẬP ỦY BAN TƯ PHÁP CỦA QUỐC HỘI Ủy ban Tư pháp của Quốc hội được thành lập trong bối cảnh yêu cầu đổ i mới toàn diê ̣n đấ t nước mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra cũng như yêu cầ u của Quố c hội trong Nhà nư ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân , yêu cầ u của sự phát triể n kinh tế - xã hội trong tin ̀ h hin ̀ h hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quố c tế. Chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp nhìn chung vẫn chưa thực sự đáp ứng được đòi hỏi của nhân dân; quá trình giải quyết các vụ án vẫn còn để xảy ra oan sai, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp. Để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, khắc phục việc ra bản án, quyết định oan sai, nâng cao uy tín của các cơ quan này trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, phúc đáp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp mà một trong những giải pháp được đề cao là đẩy mạnh hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng khẳng định: Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp.
Thành lập Ủy ban tư pháp của Quốc hội để giúp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quố c hội thực hiê ̣n nhiê ̣m vụ giám sát hoạt động tư pháp, trọng tâm là việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử [4]. Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, thì một trong những việc quan trọng phải làm để thực hiện Nghị quyết này là cần "thành lập Ủy ban tư pháp của Quốc hội". Thể chế hóa các yêu cầ u nêu trên , tại kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa XI đã thông qua Luâ ̣t sửa đổ i, bổ sung mô ̣t số điề u của Luâ ̣t tổ chức Quố c hô ̣i ̣ thành lâ ̣p Ủy ban tư pháp của Quố c hô ̣i trên cơ sở chia trong đó có quy đinh tách Ủy ban pháp luật của Quốc hội. Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII, căn cứ vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội, Quốc hội đã thành lập Ủy ban tư pháp để tăng cường giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả, tính đúng đắn và tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các cơ quan này; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới đất nước.
Từ khi được thành lập cho đến nay, căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn quy định tại Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và các văn bản pháp luật có liên quan đồ ng thời kế thừa và phát huy kết quả hoạt động của Ủy ban Pháp luật các khóa trước, Ủy ban Tư pháp đã tăng cường đổi mới phương thức hoạt động để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong công tác lâ ̣p pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. VỀ TỔ CHỨC CỦA ỦY BAN TƢ PHÁP CỦA QUỐC HỘI Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII đã bầu Ủy ban tư pháp với 34 thành viên, bao gồm Chủ nhiệm, 04 Phó Chủ nhiệm, 03 Ủy viên Thường trực và 26 Ủy viên khác. Chủ nhiệm, các Phó chủ nhiệm và Ủy viên thường trực được tổ chức thành Thường trực Ủy ban tư pháp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong số 34 thành viên Ủy ban có 05 đại biểu nữ, 01 đại biểu người dân tộc; 07 đại biểu là Trưởng đoàn và Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại địa phương; 03 đại biểu làm việc tại cơ quan Công an; 03 đại biểu làm việc tại Viện kiểm sát nhân dân; 05 đại biểu làm việc tại Tòa án nhân dân, 01 đại biểu làm việc tại Đoàn luật sư; 05 đại biểu làm việc tại cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương; 01 đại biểu làm việc tại Ban dân nguyện; 01 đại biểu công tác tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.
Cơ cấu của Ủy ban có các thành viên hoạt động trên lĩnh vực khác nhau, đa dạng về độ tuổi, vị trí và kinh nghiệm công tác. Về cơ bản, việc cơ cấu thành viên Ủy ban Tư pháp đã kết hợp được nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, có sự đa dạng về độ tuổi, chức vụ và kinh nghiệm công tác nên đã có sự bổ sung cho nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban. Đa số thành viên Ủy ban tư pháp đã hoặc đang công tác tại các cơ quan tư pháp, nhiều thành viên hoạt động kiêm nhiệm vì hiện nay đang đảm nhâ ̣n chức vụ lãnh đạo tại các cơ quan tư pháp địa phương. Do đó, chất lượng của các thành viên Ủy ban tư pháp tương đối đồng đều, am hiểu chuyên sâu về lĩnh vực hoạt động của Ủy ban Tư pháp.
Bô ̣ máy giúp viê ̣c cho Ủy ban tư pháp của Quố c hô ̣i là Vụ tư pháp cũng được thành lập theo Ng hị quyết số 02/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 24 tháng 7 năm 2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vụ tư pháp là đơn vị có nhiệm vụ tham mưu, phục vụ các hoạt động của Ủy ban tư pháp. Ban đầu số cán bộ, chuyên viên của Vụ tư pháp được chuyển từ số cán bộ, chuyên viên của Vụ pháp luật sang gồm 13 người. Quá trình hoạt động bộ máy của Vụ tư pháp dần được hoàn thiện, đến nay số biên chế của Vụ là 26 người trong đó có Vụ trưởng, 05 Phó vụ trưởng, 18 chuyên viên, 01 văn thư, 01 kế toán viên.
Lãnh đạo và chuyên viên của Vụ tư pháp cơ bản đều có trình độ đại học chuyên ngành pháp lý trở lên và có kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, các đồng chí lãnh đạo Vụ đều đã là chuyên viên chính hoặc chuyên viên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao cấp, có trình độ chuyên môn và lý luận chính trị cao. Hoạt động của Vụ tư pháp luôn gắn liền với các hoạt động của Ủy ban tư pháp trên các mặt công tác, về cơ bản Vụ tư pháp đã đáp ứng được yêu cầu phục vụ Ủy ban Tư pháp. Bên ca ̣nh đó , bô ̣ máy giúp viê ̣c cho Ủy ban tư pháp tuy đã cố gắ ng nhưng do còn thiếu về số lượng cán bộ , chuyên viên , trình độ chuyên môn không đồng đều nên đáp ứng chưa đầy đủ , kịp thời yêu cầu hoạt động của Ủy ban tư pháp. VỀ NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN TƢ PHÁP CỦA QUỐC HỘI Uỷ ban tư pháp của Quốc hội khóa XII đươ ̣c thành lâ ̣p từ tháng 7 năm 2007 trên cơ sở chia tách Ủy ban pháp luâ ̣t của Quố c hô ̣i khóa XI.
Viê ̣c tách nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban pháp luật để thành lập Uỷ ban pháp luật và Ủy ban Tư pháp là tiếp tục thể chế hoá Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về công tác tư pháp và chiến lược cải cách tư pháp , đồ ng thời để nâng cao chất lượng hoạt động của các Uỷ ban của Quốc hội theo hướng chuyên môn hoá (chuyên sâu) theo lĩnh vực, theo ngành. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban tư pháp được quy định trong Luật tổ chức Quố c hô ̣i năm 2001 (sửa đổ i , bổ sung năm 2007), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật phòng, chống tham nhũng, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Ngoài ra Ủy ban tư pháp còn thực hiện một số nhiệm vụ do Đảng đoàn Quốc hội, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao. Theo quy định tại Điều 27a của Luật tổ chức Quốc hội (được sửa đổi, bổ sung năm 2007), Ủy ban tư pháp có những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau đây: 1.
Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh về hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, bổ trợ tư 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp, tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp và các dự án khác do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; 2. Thẩm tra các báo cáo của Chính phủ về công tác phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác thi hành án; thẩm tra các báo cáo công tác của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chủ trì thẩm tra báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng; 3.