Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao hiệu lực giám sát tối cao của Quốc hội. Thực tiễn giai đoạn trước năm 2007 cho thấy hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bộc lộ một số hạn chế, tình trạng oan sai và vi phạm thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền tự do dân chủ của công dân. Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật với đề tài nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội giải quyết trực tiếp vấn đề nâng cao chất lượng lập pháp và giám sát tư pháp chuyên sâu.

Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cơ sở lý luận về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước; đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức bộ máy và kết quả hoạt động của Ủy ban Tư pháp trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII từ năm 2007 đến năm 2011; từ đó xác định các bài học kinh nghiệm và đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện thiết chế này. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hoạt động lập pháp, giám sát và đối ngoại của Ủy ban trên địa bàn cả nước trong suốt giai đoạn 5 năm của nhiệm kỳ đầu tiên. Công trình có ý nghĩa thực tiễn lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học để đánh giá hiệu quả vận hành của một cơ quan gồm 34 thành viên, thực hiện thẩm tra 30 dự án văn bản quy phạm pháp luật và xử lý 28.583 đơn thư khiếu nại, tố cáo, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu cải cách tư pháp quốc gia đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết phân chia quyền lực và kiểm soát quyền lực của Montesquieu, nhấn mạnh nguyên tắc quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cần có sự độc lập tương đối và kiềm chế lẫn nhau để ngăn ngừa sự lạm quyền và bảo vệ quyền tự do công dân. Đồng thời, đề tài phát triển trên cơ sở lý thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Mô hình nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ tương tác giữa cơ quan đại diện quyền lực tối cao là Quốc hội với các thiết chế tư pháp thông qua cầu nối chuyên môn là Ủy ban Tư pháp. Nghiên cứu làm sáng tỏ 5 khái niệm cốt lõi: quyền lập pháp, giám sát tư pháp, cải cách tư pháp, cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp. Các định hướng chính trị - pháp lý then chốt được thể chế hóa từ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 và quy định tại Điều 27a Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007) giữ vai trò định hình toàn bộ khung phân tích lý luận của luận văn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ hệ thống văn kiện của Đảng, các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ khóa XII của Quốc hội, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp, báo cáo công tác thường niên của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Công an trong giai đoạn 2007 - 2011. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% các văn bản do Ủy ban Tư pháp thẩm tra với 30 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, cùng toàn bộ 28.583 đơn thư khiếu nại, tố cáo tiếp nhận trong nhiệm kỳ.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho mọi mảng công tác của Ủy ban trong suốt chu kỳ 5 năm hoạt động. Đề tài kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học pháp luật. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu trực quan giữa quy định của pháp luật thực định với kết quả vận hành thực tế của bộ máy giúp việc gồm 26 cán bộ thuộc Vụ Tư pháp, từ đó đánh giá chuẩn xác năng lực thực thi và mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về mặt tổ chức, Ủy ban Tư pháp khóa XII được thành lập trên cơ sở chia tách từ Ủy ban Pháp luật với quy mô 34 thành viên, bao gồm 1 Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm, 3 Ủy viên Thường trực và 26 Ủy viên khác. Đội ngũ thành viên thể hiện cơ cấu đa dạng với 5 đại biểu nữ (chiếm 14,7%), 1 đại biểu dân tộc thiểu số, 7 đại biểu chuyên trách tại địa phương (chiếm 20,6%), cùng 11 đại biểu đang công tác tại Tòa án, Viện kiểm sát và Công an (chiếm 32,4%). Bộ máy giúp việc là Vụ Tư pháp được kiện toàn từ 13 cán bộ ban đầu lên 26 người, tổ chức thành 4 nhóm nghiệp vụ chuyên sâu theo 4 lĩnh vực: Điều tra - Phòng chống tham nhũng, Truy tố, Xét xử, Thi hành án và bổ trợ tư pháp.

Thứ hai, trong công tác xây dựng pháp luật, Ủy ban đã chủ trì thẩm tra, chỉnh lý và hoàn thiện 30 dự án văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm 9 dự án luật, 8 dự án pháp lệnh, 1 dự thảo nghị quyết và 12 tờ trình. Trong đó, 7 dự án luật và 5 dự án pháp lệnh đã được thông qua. Đóng góp nổi bật thể hiện qua việc chỉnh lý dự thảo Luật tố tụng hành chính tăng thêm 101 điều (tương đương 4 chương), Luật trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành đạt 85,8% và Luật thi hành án hình sự đạt tỷ lệ 86,61%.

Thứ ba, trong hoạt động giám sát và giải quyết đơn thư, Ủy ban tiếp nhận 28.583 đơn thư khiếu nại, tố cáo, tiến hành phân loại và xử lý 15.663 đơn thuộc thẩm quyền. Đơn vị đã phát hành 3.862 công văn gửi cơ quan chức năng, đôn đốc xem xét lại và ra quyết định kháng nghị tái thẩm, giám đốc thẩm đối với 281 vụ việc, đồng thời yêu cầu các cơ quan nghiên cứu lại hồ sơ của 1.545 vụ việc có dấu hiệu vi phạm.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ ra điểm nghẽn lớn khi có tới 76,5% thành viên hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, dẫn đến tình trạng vắng mặt khoảng 33,3% (1/3 tổng số đại biểu) trong một số phiên họp thẩm tra toàn thể, gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì nguyên tắc làm việc tập thể và biểu quyết theo đa số.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các kết quả trên xuất phát từ chủ trương chuyên môn hóa sâu sắc các cơ quan của Quốc hội theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW. Tuy nhiên, tình trạng quá tải công việc nảy sinh do quy trình gửi hồ sơ từ các cơ quan soạn thảo thường xuyên bị chậm trễ so với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. So với các giai đoạn trước năm 2007, việc thành lập Ủy ban Tư pháp độc lập đã gia tăng đáng kể tính phản biện khoa học trong các báo cáo thẩm tra về phòng chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực tư pháp.

Để minh họa trực quan các luận điểm này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thiết kế thành bảng thống kê cơ cấu 34 nhân sự phân bổ theo các cơ quan tư pháp và biểu đồ cột so sánh tương quan giữa số lượng 28.583 đơn thư tiếp nhận với 3.862 công văn xử lý thực tế, giúp người đọc nhận diện rõ nét áp lực xử lý nghiệp vụ của bộ máy thường trực.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm nâng cao năng lực hoạt động của Ủy ban Tư pháp trong giai đoạn tiếp theo:

  1. Kiện toàn cơ cấu nhân sự chuyên trách: Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần sửa đổi các quy định liên quan để nâng tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách trong Ủy ban Tư pháp từ mức 20,6% lên tối thiểu 50% trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (giai đoạn 2011 - 2016), giảm thiểu sự phụ thuộc vào thành viên kiêm nhiệm nhằm bảo đảm đủ nhân lực thường trực xử lý công việc.
  2. Chuẩn hóa quy trình chuyển giao hồ sơ lập pháp: Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần ban hành chế tài ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan trình dự án, quy định thời hạn gửi tài liệu thẩm tra trước phiên họp ít nhất 20 ngày, chấm dứt hoàn toàn tình trạng gửi tài liệu sát ngày họp nhằm nâng cao 100% chất lượng nghiên cứu hồ sơ chuyên sâu.
  3. Hiện đại hóa công nghệ quản lý đơn thư giám sát: Vụ Tư pháp chủ trì phối hợp với Văn phòng Quốc hội triển khai ứng dụng phần mềm số hóa và quản lý cơ sở dữ liệu 100% đơn thư khiếu nại tố cáo trong thời gian 12 đến 24 tháng, thiết lập cơ chế tự động theo dõi tiến độ giải quyết của 100% công văn chuyển tiếp đến Tòa án và Viện kiểm sát.
  4. Mở rộng cơ chế chuyên gia và cộng tác viên phản biện: Thường trực Ủy ban Tư pháp cần xây dựng mạng lưới cố vấn khoa học gồm ít nhất 50 chuyên gia, giảng viên và luật sư đầu ngành trước năm 2015 để tham gia đóng góp ý kiến độc lập đối với các dự án luật phức tạp và các vụ án có đơn kêu oan kéo dài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo chuyên môn sâu cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  1. Đại biểu Quốc hội và cán bộ tham mưu tại các cơ quan của Quốc hội: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng về phương thức tổ chức thẩm tra 30 dự án văn bản quy phạm pháp luật và kinh nghiệm điều hành 4 nhóm chuyên môn của Ủy ban.
  2. Cán bộ, Thẩm phán, Kiểm sát viên và Chấp hành viên trong hệ thống tư pháp: Giúp các cơ quan tiến hành tố tụng hiểu rõ quy trình giám sát của Quốc hội đối với 100% báo cáo công tác thường niên và nâng cao trách nhiệm giải trình khi tiếp nhận công văn xử lý đơn thư.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật học: Cung cấp khung lý thuyết về phân công, phối hợp quyền lực nhà nước cùng tập dữ liệu thực tiễn 28.583 đơn thư để phục vụ công tác giảng dạy môn Luật Hiến pháp và Khoa học tổ chức bộ máy nhà nước.
  4. Chuyên gia phân tích chính sách và cải cách thể chế: Là tài liệu tham khảo giá trị để đánh giá tác động của việc chia tách cơ quan chuyên trách Quốc hội và xây dựng lộ trình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao Quốc hội khóa XII quyết định thành lập riêng Ủy ban Tư pháp?
    Ủy ban Tư pháp được thành lập vào tháng 7 năm 2007 trên cơ sở chia tách từ Ủy ban Pháp luật nhằm thể chế hóa Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Quyết định này nhằm đáp ứng yêu cầu chuyên môn hóa sâu sắc hoạt động giám sát đối với các cơ quan tố tụng và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

  2. Cơ cấu tổ chức của Ủy ban Tư pháp khóa XII có những điểm nổi bật nào?
    Ủy ban gồm 34 thành viên, trong đó có 5 đại biểu nữ và 7 đại biểu chuyên trách tại địa phương. Thường trực Ủy ban cùng bộ máy giúp việc Vụ Tư pháp gồm 26 cán bộ được tổ chức khoa học thành 4 nhóm công tác phụ trách riêng biệt các khâu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

  3. Kết quả lớn nhất của Ủy ban trong công tác xây dựng pháp luật là gì?
    Ủy ban đã chủ trì thẩm tra và chỉnh lý 30 dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, tiêu biểu là việc bổ sung 101 điều cho dự thảo Luật tố tụng hành chính và đạt tỷ lệ đồng thuận rất cao tại Quốc hội đối với Luật trọng tài thương mại (85,8%) và Luật thi hành án hình sự (86,61%).

  4. Hoạt động giám sát đơn thư khiếu nại tố cáo đạt được những kết quả cụ thể nào?
    Trong nhiệm kỳ, Ủy ban đã tiếp nhận 28.583 đơn thư, ban hành 3.862 công văn đôn đốc các cơ quan tư pháp. Nhờ đó, các cơ quan chức năng đã xem xét ra quyết định kháng nghị, giải quyết lại 281 vụ việc và thụ lý xem xét hồ sơ của 1.545 vụ việc có vướng mắc.

  5. Đâu là rào cản lớn nhất đối với hiệu quả hoạt động của Ủy ban Tư pháp khóa XII?
    Thách thức lớn nhất là tỷ lệ thành viên hoạt động kiêm nhiệm còn cao (chiếm 76,5%), dẫn đến tình trạng vắng mặt tới 33,3% đại biểu trong các cuộc họp thẩm tra, kết hợp với việc các cơ quan soạn thảo gửi tài liệu thẩm tra chậm so với quy định pháp luật.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực và khẳng định tính tất yếu khách quan của việc thành lập Ủy ban Tư pháp theo tinh thần cải cách tư pháp.
  • Đánh giá chi tiết kết quả hoạt động khóa XII thông qua các chỉ số thực tế với 34 thành viên, 30 dự án lập pháp và 28.583 đơn thư được xử lý bài bản.
  • Xác định rõ nguyên nhân của các tồn tại về tình trạng kiêm nhiệm đại biểu và sự chậm trễ trong quy trình cung cấp tài liệu từ các cơ quan hữu quan.
  • Đề xuất 4 nhóm kiến nghị có tính khả thi cao nhằm tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách lên trên 50% và số hóa 100% cơ sở dữ liệu giám sát tư pháp.
  • Xác lập định hướng hoàn thiện thể chế Quốc hội trong giai đoạn 2011 - 2020, tạo tiền đề vững chắc cho việc bảo đảm quyền con người và nâng cao hiệu lực tư pháp.

Công trình là tài liệu khoa học hữu ích dành cho các nhà nghiên cứu, cán bộ lập pháp và các nhà hoạch định chính sách tham khảo để tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế.