Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quyền tự do dịch chuyển của người lao động; - Chương 2: Thực trạng đảm bảo quyền tự do dịch chuyển của người lao động trong quá trình Việt Nam tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN; - Chương 3: Quan điểm và các giải pháp cơ bản đảm bảo quyền tự do dịch chuyển của người lao động trong quá trình Việt Nam tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TỰ DO DỊCH CHUYỂN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Những vấn đề chung về quyền tự do dịch chuyển của ngƣời lao động 1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức dịch chuyển của người lao động 1.
Khái niệm dịch chuyển lao động Trong tiếng Anh, dịch chuyển lao động (di chuyển lao động), có những cụm từ liên quan là Labour Mobility hoặc Labour Movement, được hiểu chung nhất là NLĐ từ một công việc hoặc nơi làm việc chuyển sang làm một công việc khác hoặc di chuyển đến một môi trường mới. Ðôi khi đề cập cụ thể đến các dòng di chuyển lao động trên thị trường lao động. Liên quan đến khái niệm dịch chuyển/di chuyển lao động, có khái niệm gốc là di dân. Ngoài ra, còn một số quan điểm về dịch chuyển lao động như sau: Theo Nguyễn Mạnh Tiến (2011) [48] "Di dân là hiện tượng di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những chuẩn mực về thời gian và không gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú”.
Khái niệm này nhằm đảm bảo sự thống nhất về khảo sát, điều tra, can thiệp vào hiện tượng di dân. Tác giả Brent Radcliff (2014) [47] đã đưa ra định nghĩa dịch chuyển lao động, đề cập đến sự dễ dàng mà NLĐ có thể di chuyển giữa các ngành nghề trong một nền kinh tế và giữa các nền kinh tế khác nhau. Dịch chuyển lao động là một yếu tố quan trọng trong việc nghiên cứu kinh tế bởi vì nó phản ánh thực trạng lao động - một trong những yếu tố quan trọng của sản xuất. Từ cách tiếp cận của kinh tế học mới, Võ Thị Minh Lệ (2009) [18] cho rằng di chuyển lao động quốc tế là khi các hộ gia đình quyết định gửi một 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong các thành viên của gia đình ra nước ngoài để kiếm thêm thu nhập.
Mục đích của sự di cư lao động nhằm tối thiểu hóa những rủi ro đối với thu nhập gia đình và vượt qua những khó khăn về vốn đối với các hoạt động sản xuất của gia đình đó. Đào Thị Thu Trang (2011) [31] di chuyển lao động nội khối là việc NLĐ ở các nước thành viên một khối kinh tế (có liên kết kinh tế chặt chẽ) chuyển dịch sang nước khác trong cùng khối dưới tác động của cung - cầu trên thị trường lao động chung, thể chế kinh tế và các cam kết hợp tác kinh tế khu vực. Đặc điểm và các hình thức dịch chuyển của người lao động a. Đặc điểm dịch chuyển của người lao động (ra ngoài biên giới) [49]: Thứ nhất, đa số lao động di chuyển từ các nước đang phát triển không có nghề nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Lao động di chuyển từ các nước đang phát triển chủ yếu là lao động phổ thông.
Do không có chuyên môn nghề nghiệp nên lao động thường tập trung vào những lĩnh vực như xây dựng, khai mỏ, nông nghiệp và giúp việc gia đình. Tuy nhiên, những nước tiếp nhận nguồn lao động này từ các nước đang phát triển có thời hạn không dài (tạm thời ký trong khoảng thời gian từ 3-5 năm) nhằm mục đích tránh những hậu quả xã hội của nhóm lao động di cư không nghề hoặc bán chuyên nghiệp để lại. Thứ hai, lao động di chuyển tăng nhanh thể hiện ở mức tăng liên kết thị trường lao động Singapore phát triển kinh tế dựa vào chiến lược sử dụng lao động di cư thông qua cơ chế quota và thu thuế. Từ những năm 1980 sự bùng nổ kinh tế của Malaysia và Thái Lan dẫn tới việc thiếu hụt lao động ở các nước này.
Do đó, Malaysia và Thái Lan đã thực hiện chiến lược mở cửa đối với lao động di 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cư từ các nước khác trong khu vực. ASEAN đang tập trung phát triển một thị trường chung đối với việc di chuyển tự do NLĐ và xóa bỏ yêu cầu visa từ lao động trong khu vực. Philippin là nước có số lao động di cư ra nước ngoài nhiều nhất - đó là những chuyên gia và lao động có kỹ năng, chuyên môn - di cư tới các nước khác nhau trên toàn thế giới. Một số nhóm có chuyên môn, kỹ năng nhất định thì chỉ di cư tới một số nước.
Ví dụ, lao động giúp việc gia đình chủ yếu tập trung ở Hồng Công và Saudi Arabia; lao động trong lĩnh vực nghệ thuật di cư tới Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á khác. Các chuyên gia công nghệ thông tin và y tá di cư tới Mỹ và Anh. Rõ ràng, sự chuyên môn hóa thị trường lao động làm tăng mối liên kết thị trường giữa các quốc gia trong khu vực. Thứ ba, di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra mạnh ở những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh Làn sóng di cư lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra mạnh nhất ở Trung Quốc, Campuchia và VN – những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh kể từ năm 1995.
Khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách và mở cửa kinh tế (1978), đã có khoảng 130 triệu người Trung Quốc di chuyển từ nông thôn lên thành phố để tìm kiếm việc làm (chưa tính đến số di chuyển ra nước ngoài làm việc). Dòng di cư này, theo Liên hợp quốc, là lớn nhất trên thế giới, đã tiếp sức cho mức độ tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc, cải thiện điều kiện sống cho những NLĐ nghèo đói. Thứ tư, đa số lực lượng lao động di cư là nữ Hai thập kỷ gần đây di cư lao động nữ chiếm tỉ lệ ngày càng tăng. Theo báo cáo của Action Aid, lực lượng di cư đang có xu hướng nữ hoá, 81% lao động di cư từ Indonesia (năm 2004), 72% lao động di cư từ Philippines (năm 2006) và 60% lao động di cư từ VN (năm 2008) là lao động nữ.
Do sự phát triển của ngành chế tạo và dịch vụ cũng như nhu cầu giúp việc gia đình tăng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã dẫn tới nữ hóa dòng lao động di cư của các nước đang phát triển. Di cư lao động nữ thường tập trung nhiều ở Philippin và Inđônêsia. Từ năm 1992 đến nay, di cư lao động nữ ở Philippin chiếm tới 60-80% tổng số lao động di cư ra nước ngoài tìm việc làm. Phần lớn trong số họ làm các công việc như dịch vụ chăm sóc sức khỏe và quét dọn trong gia đình với mức lương thấp.
Trong khi phụ nữ Philippin có xu hướng di cư tới khắp các nước trên thế giới, thì phụ nữ Inđônêsia chủ yếu tới các nước vùng Vịnh và Trung Đông để tìm việc làm. Đặc biệt di cư tới Tây Á chiếm hơn 93% lao động di cư nữ của Inđônêsia. Sở dĩ nữ chiếm phần lớn trong dòng di cư lao động là do thị trường nhập khẩu ngày càng được mở rộng cho lao động nữ. Thị trường tiếp nhận lao động nữ nhiều nhất là Trung Đông, đặc biệt là Ả rập Saudi và Kwait.
Thứ năm, di cư lao động bất hợp pháp gia tăng Mạng lưới di cư bất hợp pháp ngày càng được lựa chọn do những kênh nhập cư hợp pháp đang ngày càng bị thu hẹp. Các nước đang phát triển châu Á đều có số lượng lao động di cư bất hợp pháp cao hơn NLĐ di cư hợp pháp. Sở dĩ di cư bất hợp pháp tăng là do chính sách quản lý di cư thiếu chặt chẽ và mong muốn của các chủ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm và bóc lột lao động dễ dàng. Di cư bất hợp pháp có thể thỏa mãn nhu cầu sử dụng lao động hiệu quả, song không đảm bảo quyền lợi và điều kiện an toàn cho NLĐ.
Di cư bất hợp pháp từ các nước đang phát triển thường tập trung tới các quốc gia có mức thu nhập cao hơn, môi trường sống ưa thích hơn như Bắc Mỹ, Tây Âu, Pháp, Italia. Các hình thức dịch chuyển lao động Tác giả Brent Radcliff (2014) [47] trong “The Economics Of Labor Mobility” chỉ ra có hai dòng dịch chuyển lao động chủ yếu là dịch chuyển nghề nghiệp và dịch chuyển địa lý. Dịch chuyển nghề nghiệp là dịch chuyển 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ nghề này sang nghề khác, lĩnh vực hoạt động này sang lĩnh vực hoạt động khác. Dịch chuyển theo địa lý là dịch chuyển từ nơi làm việc này sang nơi làm việc khác (có thể là trong nước hoặc sang nước khác).
Theo Brent, dịch chuyển theo địa lý có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế một quốc gia, nhất là trong bối cảnh hội nhập. Dịch chuyển lao động theo địa lý có những ảnh hưởng đến vấn đề lao động của nền kinh tế, như nguồn cung lao động, tỷ lệ thất nghiệp, mức lương, sự cạnh tranh, năng suất lao động. Brent đề cao khía cạnh tăng năng suất lao động của dịch chuyển lao động có kỹ năng. Ông cho rằng một dòng NLĐ dịch chuyển có thể tăng năng suất lao động nếu họ mang kỹ năng chuyên môn đến nơi làm việc mới, mặc dù họ có thể đẩy nhân viên hiện có, người kém năng suất hơn vào tình cảnh thất nghiệp.
Từ giác độ kinh doanh, dịch chuyển lao động là dịch chuyển lực lượng lao động để thu được lợi nhuận cao hơn cho lao động của họ trong việc làm, trong khu vực, liên ngành, liên quốc gia, giữa các doanh nghiệp, cũng như việc chuyển giao nơi làm việc. Dịch chuyển lao động là kết quả của việc thương mại hóa lực lượng lao động, là một biểu hiện trực tiếp của việc theo đuổi của lao động để tối đa hóa giá trị. Nguyễn Mạnh Cường (2006) [5] và Lê Hồng Huyên (2011) [14] đã phân tích các phương thức dịch chuyển lao động, đặc biệt nhấn mạnh đến phương thức hiện diện thể nhân trong bối cảnh hội nhập (VN gia nhập WTO, gia nhập AEC.