Tổng quan nghiên cứu

Thị trường cho thuê tài chính tại Việt Nam chính thức được định hình về mặt pháp lý từ năm 1995 thông qua Quyết định 149/QĐ-NH5 và Nghị định số 64/CP. Sau hơn 15 năm vận hành tính đến thời điểm năm 2011, dư nợ của kênh tín dụng trung và dài hạn này mới chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 1,5% đến 2% tổng dư nợ toàn hệ thống tổ chức tín dụng, thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân từ 15% đến 30% tại các quốc gia phát triển.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động của công ty cho thuê tài chính còn thiếu tính đồng bộ, hiệu lực pháp lý chưa cao khi chủ yếu dừng lại ở cấp Nghị định như Nghị định số 16/2001/NĐ-CP, Nghị định số 65/2005/NĐ-CP và Nghị định số 95/2008/NĐ-CP. Nhiều rào cản về điều kiện cấp phép thành lập, giới hạn phương thức huy động vốn và sự chồng chéo trong cơ chế xử lý tài sản tranh chấp đã kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp trong ngành.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện khung pháp lý về điều kiện, trình tự thành lập cũng như các mảng hoạt động nghiệp vụ của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là phân tích thực trạng pháp lý, đánh giá dữ liệu thực tiễn giai đoạn từ năm 2007 đến tháng 6 năm 2010, đối chiếu với chuẩn mực quốc tế để xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp khơi thông nguồn vốn trung - dài hạn, hướng đến mục tiêu hỗ trợ từ 20% đến 30% nhu cầu đổi mới máy móc, thiết bị hiện đại cho cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn công nghiệp hóa 2011 - 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết kinh tế - pháp lý cốt lõi: Lý thuyết trung gian tài chính (Financial Intermediation Theory) và Lý thuyết quyền tài sản (Property Rights Theory). Lý thuyết trung gian tài chính luận giải vai trò cầu nối vốn của công ty cho thuê tài chính giữa chủ thể tích lũy vốn và bên có nhu cầu đầu tư tài sản cố định. Lý thuyết quyền tài sản làm sáng tỏ sự phân tách đặc thù giữa quyền sở hữu pháp lý (thuộc về bên cho thuê) và quyền sử dụng kinh tế (thuộc về bên đi thuê).

Mô hình nghiên cứu kế thừa chuẩn mực quốc tế từ Công ước Unidroit năm 1988 và Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 17 của Ủy ban Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IASC). Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm:

  • Công ty cho thuê tài chính: Loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có tư cách pháp nhân độc lập, không thực hiện nhận tiền gửi cá nhân và dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
  • Hợp đồng cho thuê tài chính: Giao dịch tín dụng trung và dài hạn không thể hủy ngang, trong đó bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản và phần lớn rủi ro, lợi ích gắn liền với tài sản cho bên thuê.
  • Nghiệp vụ mua và cho thuê lại (Sale and Leaseback): Hình thức tái cấu trúc tài chính giúp doanh nghiệp giải phóng vốn lưu động.
  • Vốn pháp định: Mức vốn điều lệ tối thiểu bắt buộc đạt 100 tỷ đồng giai đoạn trước năm 2008 và nâng lên 150 tỷ đồng theo lộ trình đến năm 2011 theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP và Nghị định số 10/2011/NĐ-CP.
  • Tiêu chí giao dịch: Thời hạn cho thuê tối thiểu bằng 60% thời gian khấu hao tài sản hoặc tổng tiền thuê tối thiểu bằng giá trị tài sản tại thời điểm ký kết.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2005) và dữ liệu sơ cấp là báo cáo thống kê hoạt động từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 100% thực thể đang hoạt động với số lượng 12 công ty cho thuê tài chính (bao gồm các công ty trực thuộc ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng cổ phần, công ty liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) được lựa chọn nhằm đảm bảo tính bao quát, loại trừ sai số và phản ánh trung thực toàn cảnh bức tranh pháp lý và kinh doanh của thị trường Việt Nam.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa phương pháp luật học so sánh (đối chiếu quy định của Việt Nam với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Điển) và phương pháp thống kê mô tả, quy nạp - diễn dịch. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đánh giá chính xác mức độ tương thích của pháp luật thực định với thông lệ quốc tế, đồng thời lượng hóa được tác động của các quy định pháp luật lên kết quả huy động vốn và xử lý nợ xấu trong timeline 4 năm (2007 - 2010).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy định về điều kiện cấp phép thành lập còn khắt khe nhưng chưa thực sự đồng bộ. Quy trình thẩm định hồ sơ xin cấp phép tại Ngân hàng Nhà nước kéo dài tối đa 180 ngày theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, cùng với yêu cầu vốn chủ sở hữu của cổ đông sáng lập là doanh nghiệp phải đạt tối thiểu 200 tỷ đồng và tổng tài sản có 500 tỷ đồng. Đối với đối tác nước ngoài, tổng tài sản phải vượt mức 10 tỷ USD. Những rào cản này làm giảm sức hút thành lập tổ chức mới, khiến số lượng công ty trong ngành chỉ dừng lại ở con số 12 đơn vị suốt nhiều năm.

Thứ hai, sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu nguồn vốn hoạt động. Thống kê giai đoạn 2007 - 2010 cho thấy nguồn vốn tự có và huy động từ tiền gửi tổ chức chiếm chưa đầy 15% tổng nguồn vốn, trong khi hơn 85% nguồn vốn hoạt động phụ thuộc vào các khoản vay trung và dài hạn từ ngân hàng mẹ hoặc các tổ chức tín dụng khác. Tình trạng này khiến chi phí vốn đầu vào của công ty cho thuê tài chính bị đội lên từ 1% đến 2,5% so với lãi suất cho vay thương mại, trực tiếp làm giảm năng lực cạnh tranh.

Thứ ba, tỷ lệ tranh chấp hợp đồng và nợ xấu gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng 2008 - 2010. Tỷ lệ hợp đồng phát sinh nợ quá hạn và tranh chấp chiếm khoảng 18% đến 22% tổng dư nợ toàn ngành. Nguyên nhân chủ yếu từ việc bên thuê vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê (chiếm trên 65% số vụ việc). Khi xảy ra vi phạm, quyền thu hồi và xử lý tài sản của bên cho thuê bị cản trở bởi thủ tục khởi kiện kéo dài tại Tòa án nhân dân từ 12 đến 24 tháng, làm tài sản bị hao mòn cơ học và sụt giảm từ 30% đến 50% giá trị thị trường.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc địa vị pháp lý của công ty cho thuê tài chính bị giới hạn trong nhóm tổ chức tín dụng phi ngân hàng: không được nhận tiền gửi tiết kiệm của cá nhân dưới 1 năm, không được cung ứng dịch vụ thanh toán. So sánh với thị trường Hoa Kỳ – nơi nghiệp vụ leasing khởi phát từ năm 1952 và chiếm tới 30% tổng tài trợ vốn tài sản cố định, quy định của Việt Nam còn quá chú trọng vào quản lý tiền kiểm thay vì kiểm soát rủi ro vận hành.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  ĐỐI CHIẾU TIÊU CHÍ GIAO DỊCH CTTC QUỐC TẾ               |
+--------------------+---------------------+------------------------------+
| Quốc gia/Chuẩn mực | Thời hạn thuê tối   | Hiện giá dòng tiền thuê      |
|                    | thiểu so với đời    | so với giá trị tài sản       |
|                    | sống tài sản        |                              |
+--------------------+---------------------+------------------------------+
| Chuẩn mực IAS 17   | Chiếm phần lớn      | Tương đương hoặc lớn hơn     |
| Hoa Kỳ             | Tối thiểu 75%       | Tối thiểu 90%                |
| Nhật Bản           | Tối thiểu 60%       | Tối thiểu 90%                |
| Hàn Quốc           | Tối thiểu 60%       | Tối thiểu 90%                |
| Việt Nam           | Tối thiểu 60%       | Bằng hoặc lớn hơn giá trị TS |
+--------------------+---------------------+------------------------------+

Dữ liệu so sánh qua bảng trên cho thấy tiêu chí định danh giao dịch của Việt Nam đã tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, nếu mô hình hóa biến động tăng trưởng dư nợ giai đoạn 2007 - 2010 qua biểu đồ đường, có thể thấy tốc độ tăng trưởng đã chững lại từ mức 25% năm 2007 xuống dưới 8% vào 6 tháng đầu năm 2010. Điều này khẳng định rằng khung pháp luật thực định chưa tháo gỡ được điểm nghẽn về thu hồi tài sản và cấp tín dụng bất động sản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính và điều kiện cấp phép thành lập. Cắt giảm thời hạn thẩm định cấp phép của Ngân hàng Nhà nước từ 180 ngày xuống tối đa 90 ngày. Đơn giản hóa bộ hồ sơ từ 7 nhóm giấy tờ xuống còn 4 danh mục cốt lõi, áp dụng hoàn toàn cơ chế tiếp nhận và phê duyệt trực tuyến qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia trong lộ trình 2011 - 2013 do Ngân hàng Nhà nước chủ trì.

Thứ hai, mở rộng phạm vi huy động vốn và gỡ bỏ rào cản công cụ tài chính. Ban hành thông tư hướng dẫn cho phép công ty cho thuê tài chính phát hành trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ tiền gửi dài hạn với mệnh giá linh hoạt, mục tiêu nâng tỷ trọng vốn tự chủ từ thị trường mở lên mức 35% đến 40% vào giai đoạn 2012 - 2015. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước là hai cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp.

Thứ ba, xây dựng cơ chế xử lý nhanh tài sản cho thuê khi phát sinh tranh chấp. Ban hành Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Ngân hàng Nhà nước công nhận quyền thu hồi tài sản trực tiếp của bên cho thuê mà không cần qua thủ tục phát mại phức tạp khi bên thuê nợ quá hạn trên 90 ngày, rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp từ 18 tháng xuống dưới 6 tháng.

Thứ tư, đa dạng hóa danh mục tài sản và mở rộng loại hình cho thuê. Sửa đổi các văn bản dưới luật để mở rộng đối tượng cho thuê tài chính sang bất động sản thương mại và hạ tầng nhà xưởng công nghiệp trước năm 2015, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng dư nợ toàn ngành đạt từ 15% đến 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý và hoạch định chính sách gồm Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tài liệu cung cấp cơ sở lập luận và dữ liệu thực chứng phục vụ xây dựng các thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tài chính phi ngân hàng.

Nhóm lãnh đạo, cán bộ pháp chế và chuyên viên thẩm định tại 12 công ty cho thuê tài chính và các ngân hàng thương mại: Luận văn cung cấp cẩm nang phân tích rủi ro hợp đồng, kỹ thuật phân định 4 điều kiện giao dịch leasing và các giải pháp thu hồi tài sản thực chiến nhằm kéo giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới 3%.

Nhóm chủ doanh nghiệp và giám đốc tài chính tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nghiên cứu hướng dẫn phương thức tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn không cần tài sản thế chấp truyền thống, áp dụng mô hình bán và tái thuê (Sale and Leaseback) để tối ưu hóa 100% dòng tiền lưu động cho sản xuất.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị với hệ thống 5 chuẩn mực so sánh quốc tế, khung phân tích lý thuyết giao dịch tài sản và dữ liệu ngành giai đoạn 2007 - 2010.

Câu hỏi thường gặp

Mức vốn pháp định tối thiểu để thành lập công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam là bao nhiêu? Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP và sửa đổi tại Nghị định số 10/2011/NĐ-CP, mức vốn pháp định đối với công ty cho thuê tài chính là 100 tỷ đồng áp dụng đến năm 2008 và tăng lên 150 tỷ đồng kể từ thời điểm năm 2011. Các đơn vị không duy trì đủ mức vốn này sẽ bị xử lý thu hồi giấy phép.

Thời hạn tối thiểu của một hợp đồng cho thuê tài chính được xác định ra sao? Căn cứ khoản 3 Điều 113 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, một trong những tiêu chí cơ bản là thời hạn cho thuê một tài sản phải đạt ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để trích khấu hao tài sản cho thuê đó theo quy định tài chính hiện hành.

Cổ đông cá nhân và tổ chức được sở hữu tối đa bao nhiêu vốn điều lệ trong công ty cho thuê tài chính cổ phần? Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tỷ lệ sở hữu của một cổ đông cá nhân không được vượt quá 5% vốn điều lệ. Đối với cổ đông là tổ chức, tỷ lệ sở hữu tối đa không vượt quá 15% vốn điều lệ của công ty, trừ các trường hợp đặc biệt được cơ quan thẩm quyền phê duyệt.

Công ty cho thuê tài chính có được phép nhận tiền gửi từ khách hàng cá nhân không? Theo khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, với tư cách là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, công ty cho thuê tài chính tuyệt đối không được thực hiện hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và không cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.

Thời hạn xem xét và cấp Giấy phép thành lập công ty cho thuê tài chính là bao lâu? Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trong thời hạn 180 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp hoặc từ chối cấp Giấy phép. Nếu từ chối, cơ quan quản lý phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do trong thời hạn luật định.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tổ chức tín dụng phi ngân hàng và giao dịch cho thuê tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế.
  • Khái quát và phân tích sắc bén khung pháp luật thực định gồm Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và các văn bản điều chỉnh mức vốn pháp định 150 tỷ đồng.
  • Bóc tách toàn diện 3 hạn chế cốt lõi về quy trình cấp phép kéo dài 180 ngày, sự phụ thuộc 85% nguồn vốn vay và rủi ro thu hồi nợ kéo dài 12 đến 24 tháng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm cải cách thủ tục cấp phép xuống dưới 90 ngày và mở rộng kênh huy động vốn.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu và ứng dụng thực tiễn cho lộ trình phát triển thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.

Để nắm bắt toàn bộ dữ liệu khảo sát, cấu trúc hợp đồng mẫu và hệ thống luận cứ pháp lý chuyên sâu, hãy tải và nghiên cứu toàn văn luận văn thạc sĩ luật học này ngay hôm nay.