Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ về cả quy mô lẫn cấu trúc kinh doanh trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI. Nếu như vào năm 1999 toàn thị trường chỉ có vẻn vẹn 10 doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động, thì đến cuối năm 2010 con số này đã tăng lên 53 tổ chức, bao gồm 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 12 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 11 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường năm 2010 ước tính đạt khoảng 30.201 tỷ đồng, tương đương tỷ trọng 1,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Trong cơ cấu doanh thu này, mảng bảo hiểm phi nhân thọ đóng góp khoảng 16.547 tỷ đồng và mảng bảo hiểm nhân thọ đạt khoảng 13.654 tỷ đồng. Đồng thời, toàn ngành đã thực hiện chi trả quyền lợi bồi thường ước tính đạt 11.347 tỷ đồng, đóng vai trò như một tấm lá chắn tài chính vững chắc bảo vệ tài sản và sức khỏe của các cá nhân, tổ chức.

Tuy nhiên, tốc độ gia tăng nhanh chóng về số lượng chủ thể kinh doanh đã làm bùng nổ tình trạng cạnh tranh gay gắt, kéo theo hàng loạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh xâm phạm trật tự thị trường. Điển hình là vụ việc ngày 29 tháng 7 năm 2010, khi Hội đồng Cạnh tranh ban hành Quyết định số 14/QĐ-HĐXL xử phạt 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ vì hành vi bắt tay ấn định biểu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ tính tương thích giữa pháp luật cạnh tranh chung và pháp luật chuyên ngành bảo hiểm trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế theo các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm hệ thống hóa lý luận khoa học pháp lý về cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm, phân tích thực trạng các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), từ đó đánh giá thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2006–2012 để đưa ra các kiến nghị lập pháp có tính khả thi cao. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp hoàn thiện hệ thống chế tài, nâng cao năng lực giám sát của cơ quan quản lý và thiết lập môi trường kinh doanh minh bạch cho toàn bộ 53 doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa lý thuyết kinh tế học thể chế về điều tiết thị trường và lý luận pháp lý về quyền tự do kinh doanh có kiểm soát. Tác giả vận dụng lý thuyết cạnh tranh tư bản chủ nghĩa của Các Mác về quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân và quá trình hình thành hệ thống giá cả thị trường thông qua sự tranh đua giữa các chủ thể sản xuất hàng hóa. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng học thuyết bảo hiểm học của Dennis Kessler và Monique Gaullier, nhìn nhận bảo hiểm dưới bản chất là sự đóng góp của số đông để bù đắp bất hạnh cho số ít dựa trên phương pháp tính toán xác suất thống kê rủi ro.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Hành vi thống nhất hành động giữa các doanh nghiệp nhằm làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường, được Luật Cạnh tranh năm 2004 phân loại thành 8 dạng thức cụ thể, trong đó áp dụng nguyên tắc cấm tuyệt đối đối với 3 dạng thỏa thuận nghiêm trọng và cấm có điều kiện khi thị phần kết hợp đạt từ 30% trở lên đối với 5 dạng thỏa thuận còn lại.
  2. Cạnh tranh không lành mạnh: Hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thường, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng, bao gồm 10 nhóm hành vi điển hình theo Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004.
  3. Chu trình kinh doanh đảo ngược: Đặc thù tài chính của ngành bảo hiểm khi doanh nghiệp thu phí bảo hiểm trước và chỉ phát sinh nghĩa vụ bồi thường sau đó nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra, dẫn đến việc nắm giữ quỹ tiền tệ nhàn rỗi lớn cần sự quản lý chặt chẽ.
  4. Biên khả năng thanh toán và dự phòng nghiệp vụ: Các chỉ tiêu an toàn tài chính bắt buộc theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo doanh nghiệp luôn đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ cam kết bồi thường cho khách hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận tổng thể để xem xét sự phát triển của quan hệ pháp luật cạnh tranh trong dòng chảy vận động của nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Về phương pháp cụ thể, luận văn kết hợp phương pháp phân tích luật học thực định, so sánh pháp luật, thống kê mô tả và tổng hợp logic.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo chính thức của Bộ Tài chính, Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương), Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động tại Việt Nam trong năm 2010 và phân tích chuyên sâu 1 điển cứu tình huống (case study) trọng điểm là hồ sơ vụ việc KNCT-HCCT-009 liên quan đến 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ bị xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Phương pháp chọn mẫu chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn vì phân khúc phi nhân thọ chiếm tới 54,8% tổng doanh thu phí toàn ngành và là nơi tập trung nhiều hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh phức tạp nhất. Việc kết hợp phân tích đối chiếu giữa quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 với pháp luật chống độc quyền của Liên minh Châu Âu (Điều 101 Hiệp ước EU) và Nhật Bản (Khoản 6 Điều 2 Luật Chống độc quyền) giúp nhận diện rõ những khoảng trống trong kỹ thuật lập pháp tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực chứng và hệ thống văn bản pháp lý đã đưa ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng doanh thu ngành bảo hiểm đạt mức cao nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro cạnh tranh mất kiểm soát. Trong giai đoạn 2005–2009, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân toàn thị trường đạt 16,99%/năm và duy trì mức tăng trưởng gần 12%/năm trong giai đoạn 2010–2012. Áp lực tăng trưởng đã thúc đẩy 29 doanh nghiệp phi nhân thọ lao vào cuộc đua giành giật thị phần thông qua các thủ thuật cạnh tranh không lành mạnh, tiêu biểu là việc cắt giảm phí bảo hiểm quá mức cho phép và chi trả hoa hồng đại lý vượt trần quy định.

Thứ hai, hiện tượng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra với quy mô lớn và có sự tham gia của phần lớn thị phần. Quyết định số 14/QĐ-HĐXL của Hội đồng Cạnh tranh năm 2010 đã phơi bày hành vi thỏa thuận ấn định mức phí sàn bảo hiểm vật chất xe cơ giới của 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chiếm trên 90% thị phần phân khúc này. Hành vi này đã triệt tiêu hoàn toàn quyền được hưởng mức giá cạnh tranh hợp lý của chủ phương tiện giao thông trên toàn quốc.

Thứ ba, áp lực bồi thường tạo gánh nặng lớn lên an toàn tài chính doanh nghiệp. Với tổng số tiền bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm năm 2010 ước tính 11.347 tỷ đồng (chiếm 37,6% tổng doanh thu toàn ngành), việc hạ phí bảo hiểm để cạnh tranh đã làm suy giảm nghiêm trọng khả năng trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ của nhiều doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.

Thứ tư, khung pháp lý hiện hành bộc lộ sự thiếu đồng bộ và chế tài chưa đủ sức răn đe. Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ quy định mức phạt tiền từ 0% đến 5% hoặc tối đa 10% tổng doanh thu năm tài chính trước đó đối với doanh nghiệp, nhưng bỏ lọt đối tượng xử lý là các hiệp hội ngành nghề và các cá nhân lãnh đạo trực tiếp tham gia tổ chức thỏa thuận ngầm.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân sâu xa của hành vi vi phạm xuất phát từ đặc tính "chu trình kinh doanh đảo ngược" và sự bất cân xứng thông tin trên thị trường bảo hiểm. Doanh nghiệp dễ dàng lạm dụng nguồn phí thu trước để theo đuổi mục tiêu doanh số ngắn hạn, bất chấp các nguyên tắc kỹ thuật an toàn tài chính.

Khi so sánh với thông lệ quốc tế, Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 tiếp cận khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hẹp hơn so với Châu Âu và Nhật Bản khi chỉ giới hạn ở 8 nhóm hành vi được liệt kê cứng nhắc và không bao hàm các quyết định điều hành từ hiệp hội ngành nghề. Trong khi các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh hay Nhật Bản áp dụng chế tài hình sự với mức phạt tù lên đến 5–10 năm và phạt tiền cá nhân hàng triệu USD, thì Việt Nam chỉ dừng lại ở xử lý hành chính. Thực trạng này được thể hiện rõ ràng qua Biểu đồ 2.1 phản ánh sự phân hóa thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ năm 2010, kết hợp với các số liệu tổng hợp tại Bảng 2.2, Bảng 2.3 và Bảng 2.4 chứng minh số lượng các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh được xử lý trong giai đoạn 2006–2012 còn quá ít ỏi so với thực tế vi phạm diễn ra trên thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Quốc hội và Bộ Tư pháp cần sớm sửa đổi Luật Cạnh tranh năm 2004, mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các quyết định mang tính định hướng giá của hiệp hội ngành nghề. Bổ sung chế tài xử phạt trực tiếp đối với người đại diện theo pháp luật và các chức danh quản lý điều hành doanh nghiệp tham gia thỏa thuận ngầm, đặt mục tiêu giảm thiểu 40% các vụ việc bắt tay ấn định giá phi pháp trong lộ trình 2014–2016.
  2. Tăng cường cơ chế giám sát biểu phí và an toàn tài chính: Bộ Tài chính chỉ đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm siết chặt quy trình thẩm định biểu phí, quy tắc và điều khoản bảo hiểm phi nhân thọ theo đúng quy định tại Thông tư 124/2012/TT-BTC và Thông tư 125/2012/TT-BTC. Đảm bảo 100% doanh nghiệp bảo hiểm duy trì biên khả năng thanh toán tối thiểu và kiểm soát tỷ lệ chi trả hoa hồng đại lý đúng hạn mức pháp luật quy định trong giai đoạn 2014–2015.
  3. Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và minh bạch hóa hoạt động đấu thầu: Thiết lập quy chế phối hợp thường trực giữa Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) và Bộ Tài chính trong việc giám sát các giao dịch tập trung kinh tế và các hợp đồng bảo hiểm tài sản công. Thực hiện thanh tra định kỳ 100% các hoạt động đấu thầu dịch vụ bảo hiểm có sử dụng nguồn vốn nhà nước theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010, hoàn tất xây dựng cơ chế giám sát trước quý IV năm 2014.
  4. Nâng cao vai trò tự điều tiết của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) cần chuyển đổi mô hình hoạt động theo hướng hỗ trợ chia sẻ cơ sở dữ liệu rủi ro và tổn thất chung cho 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Ban hành bộ quy tắc đạo đức kinh doanh chuẩn mực, cam kết 100% doanh nghiệp hội viên không sử dụng hiệp hội làm kênh trung gian phân chia thị trường hay thống nhất giá dịch vụ trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước: Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Ban soạn thảo sửa đổi Luật Cạnh tranh và Luật Kinh doanh bảo hiểm có thể sử dụng các luận cứ thực chứng để xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết, thiết lập các tiêu chí kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và ngăn chặn việc hình thành các cartel bảo hiểm.
  2. Lãnh đạo và cán bộ pháp chế tại các doanh nghiệp bảo hiểm: Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc và giám đốc tuân thủ của 29 doanh nghiệp phi nhân thọ và 12 doanh nghiệp nhân thọ có thể áp dụng các phân tích pháp lý để rà soát quy trình định giá sản phẩm, quản trị rủi ro pháp lý và phòng ngừa các vi phạm liên quan đến khuyến mại, quảng cáo hoặc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
  3. Luật sư và chuyên gia tư vấn pháp lý thương mại: Các đơn vị tư vấn luật có thể khai thác hồ sơ phân tích vụ việc KNCT-HCCT-009 để làm tiền lệ tham khảo khi tư vấn giải quyết tranh chấp kinh doanh, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng tham gia bảo hiểm hoặc đại diện tham gia tố tụng cạnh tranh.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Tài chính - Bảo hiểm có thể sử dụng công trình này làm tài liệu tham khảo giảng dạy, nghiên cứu sâu về pháp luật cạnh tranh chuyên ngành và mở rộng phát triển các đề tài liên quan đến tự do hóa dịch vụ tài chính hậu gia nhập WTO.

Câu hỏi thường gặp

Hành vi thỏa thuận ấn định phí bảo hiểm bị xử lý như thế nào theo Luật Cạnh tranh năm 2004?
Theo Khoản 2 Điều 9 Luật Cạnh tranh năm 2004, thỏa thuận ấn định giá bị cấm khi các bên tham gia có thị phần kết hợp từ 30% trở lên trên thị trường liên quan. Năm 2010, Hội đồng Cạnh tranh đã ra Quyết định số 14/QĐ-HĐXL xử phạt 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ với hình thức phạt tiền theo tỷ lệ doanh thu do cùng thống nhất áp dụng biểu phí bảo hiểm xe cơ giới.

Tại sao thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam lại dễ phát sinh hành vi cạnh tranh không lành mạnh?
Phân khúc bảo hiểm phi nhân thọ có tới 29 doanh nghiệp tranh giành tổng doanh thu 16.547 tỷ đồng năm 2010. Do đặc thù thu phí trước bồi thường sau và sản phẩm dễ bị sao chép, các doanh nghiệp thường dùng các thủ thuật hạ phí bất hợp lý hoặc tăng hoa hồng đại lý để chiếm lĩnh khách hàng ngắn hạn mà bỏ qua các yêu cầu an toàn tài chính.

Mức phạt tiền tối đa áp dụng cho hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam là bao nhiêu?
Theo Điều 10 Nghị định 120/2005/NĐ-CP, mức phạt tiền thông thường dao động từ 0% đến 5% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm. Trường hợp vi phạm thuộc nhóm hàng hóa dịch vụ thiết yếu hoặc doanh nghiệp giữ vai trò chủ mưu lôi kéo, mức phạt tiền có thể tăng lên từ 5% đến 10% tổng doanh thu.

Cam kết gia nhập WTO đặt ra thách thức gì cho công tác điều tiết cạnh tranh bảo hiểm tại Việt Nam?
Theo các cam kết WTO và Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010, Việt Nam cho phép doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới đối với vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Điều này làm gia tăng áp lực cạnh tranh cho 53 doanh nghiệp trong nước, đòi hỏi khung pháp lý phải đảm bảo sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nội địa và quốc tế.

Doanh nghiệp bảo hiểm có được phép hợp tác với nhau trong kinh doanh hay không?
Luật sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 cho phép các doanh nghiệp hợp tác trong việc đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm, giám định tổn thất và đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, mọi hành vi cấu kết nhằm mục đích phân chia thị phần, áp đặt giá hoặc khép kín dịch vụ có thị phần kết hợp từ 30% trở lên đều bị pháp luật cạnh tranh nghiêm cấm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, khẳng định tính đặc thù của chu trình tài chính ngành bảo hiểm đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt từ Nhà nước.
  • Nghiên cứu đã mổ xẻ sâu sắc bài học thực tiễn từ vụ việc xử phạt 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ theo Quyết định số 14/QĐ-HĐXL năm 2010, chứng minh tính cấp thiết của việc ngăn chặn các thỏa thuận ấn định giá ngầm.
  • Tác giả chỉ ra các điểm nghẽn và khoảng trống lập pháp lớn giữa Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi năm 2010), đặc biệt là sự thiếu vắng chế tài đối với các quyết định phản cạnh tranh của hiệp hội ngành nghề.
  • Luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp và lộ trình thực thi đến năm 2020 nhằm hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường kiểm tra biểu phí và nâng cao hiệu quả thanh tra liên ngành.
  • Đề tài là nguồn tài liệu khoa học có giá trị cao, kêu gọi các cơ quan quản lý và 53 tổ chức kinh doanh bảo hiểm chung tay xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ nguồn doanh thu hơn 30.201 tỷ đồng của toàn ngành phát triển bền vững.