Chương 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM 1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA CẠNH TRANH Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm cạnh tranh được sử dụng rất rộng ở nhiều phạm vi khác nhau như trong phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi liên quốc gia…và điểm khác nhau là mục tiêu đặt ra của việc cạnh tranh này như thế nào. Nếu như ở phạm vi quốc gia, mục tiêu đặt ra là nâng cao mức sống và các chế độ phúc lợi cho nhân dân thì đối với doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận và các lợi ích tối đa mang lại quá trị cho doanh nghiệp.
Theo Các Mác thì "cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [Dẫn theo 50]. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Mac đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hóa dưới giá trị của nó nhưng vân thu được lợi nhuận. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) thì: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất [Dẫn theo 50].
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa ó một định nghĩa là về "cạnh tranh" được thừa nhận đầy đủ nhất. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận và mục đích của các nhà khoa học. Tiếp cận dưới góc độ hàng hóa, thị trường có thể định nghĩa: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận,đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Cạnh tranh vốn được xem là động lực của sự phát triển và ý nghĩa của cạnh tranh được thể hiện rõ xét dưới các góc độ sau: Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân: Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu nhất cũng như hạn chế được các méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách hiệu quả và nâng cao phúc lợi xã hội. Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên, cạnh tranh ở đây phải là cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới có thể làm cho nền kinh tế phát triển bền vững.
CTKLM sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó sẽ tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế có thể dẫn đến mất ổn định. Như vậy, cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh. Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: Trên thị trường, nếu sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra càng gay gắt thì người được hưởng lợi ích đầu tiên chính là người tiêu dùng. Cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo đảm cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tùy tiện.
Khi đó, những lợi ích mà người tiêu dùng có thể nhận được từ sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường như chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn. Vai trò của cạnh tranh đối với các doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất yếu đối với các doanh nghiệp. Cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Cạnh tranh trở thành động lực khuyến khích các doanh nghiệp phải áp dụng các công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng dịch vụ, cải tiến mẫu mã để tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao trên thị trường.
Vai trò của cạnh tranh trên bình diện quốc tế: chính cạnh tranh đã thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng tìm kiếm thị trường với mục đích tiêu thụ, đầu tư huy động nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng lao động, quản lý trên thị trường quốc tế. Thông qua cạnh tranh quốc tế các doanh nghiệp thấy được lợi thế so sánh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện, xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Như vậy, cạnh tranh góp phần thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tham gia sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn. lao động, khoa học công nghệ với các nước trên thế giới.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận sự tồn tại tất yếu khách quan của cạnh tranh và coi cạnh tranh là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Cạnh tranh lành mạnh được các nước ủng hộ và khuyến khích phát triển bằng cách pháp lý hóa chúng trong các đạo luật về chống độc quyền và bảo vệ cạnh tranh. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM 1.1 Khái niệm bảo hiểm Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Chính sự tồn tại của các loại rủi ro chính là nguồn gốc phát sinh hoạt động dự trữ, bảo hiểm ngày nay.
Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ nhằm xây dựng Quỹ bồi thường chung từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm có những rủi ro và nhu cầu bảo hiểm giống nhau để được Quỹ bồi thường chi trả khi xảy ra những sự kiện, rủi ro, thiên tai, tai nạn bất ngờ kém may mắn gây thiệt hại cho những người tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm chính là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra. Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm. Bảo hiểm đã ra đời rất lâu trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay, bảo hiểm là một lĩnh vực đang ngày một phát triển với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm khá cao, tăng trưởng trong giai đoạn 2005-2009 là 16,99%, giai đoạn 2010 - 2012 vào khoảng gần 12% [35].
Tuy nhiên, do tính đặc thù của dịch vụ này, hiện nay chưa có bất cứ một định nghĩa nào được coi và được công nhận là định nghĩa chính thức về bảo hiểm. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Dennis Kessler thì "Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít" [10] hay theo quan điểm khác thì: Bảo hiểm là hình thức mà người được bảo hiểm cam kết góp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn cho mình hoặc một bên thứ 3 nhận được đền bù được chi trả bởi người bảo hiểm (đơn vị đứng ra nhận trách nhiệm với toàn bộ rủi ro và đứng ra đền bù các thiệt hại mà mình cam kết với người được bảo hiểm) khi xảy ra các tổn thất, thiệt hại [10]. Theo định nghĩa của Tập đoàn AIG của Mỹ thì: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm [10]. Có thể nói các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc thiên về góc độ kinh tế - kỹ thuật, chưa phải là một khái niệm bao quát và hoàn chỉnh nhất về bảo hiểm.
Dưới góc độ pháp lý, có thể tìm thấy định nghĩa của Monique Gaullier như sau: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê [39].