Tổng quan nghiên cứu

Thị trường tài chính Việt Nam trong những năm qua chứng kiến sự phát triển vượt bậc của hệ thống ngân hàng thương mại với tổng tài sản toàn hệ thống đạt mức tương đương khoảng 140% GDP. Mặc dù giữ vai trò là kênh dẫn vốn huyết mạch đáp ứng trên 80% nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với áp lực mất cân đối kỳ hạn nghiêm trọng khi sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Trong bối cảnh đó, phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ nổi lên như một giải pháp cứu cánh giúp doanh nghiệp trực tiếp huy động nguồn vốn dài hạn. Tuy nhiên, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam còn rất khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 4,5% GDP vào năm 2003 và đạt tổng giá trị lưu hành khoảng 21 tỷ USD vào cuối quý 3 năm 2012.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào sự tham gia đa dạng nhưng phức tạp của các ngân hàng thương mại trong các dự án phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại không chỉ đóng vai trò là nhà đầu tư mua trái phiếu mà còn tham gia cung cấp hàng loạt dịch vụ như tư vấn tài chính, đại lý phát hành, đại lý thanh toán, quản lý tài khoản và bảo lãnh thanh toán. Mục tiêu cụ thể của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh sự tham gia của ngân hàng thương mại trong phát hành trái phiếu riêng lẻ, đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý để đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào hệ thống các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hà Nội – trung tâm tài chính và thương mại lớn nhất cả nước – trong khung thời gian từ năm 2000 đến năm 2013, đặt trong tầm nhìn phát triển đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp hoàn thiện khung pháp lý theo định hướng của Quyết định số 261/QĐ-BTC, góp phần giảm thiểu rủi ro hệ thống và thúc đẩy thị trường vốn vận hành minh bạch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai lý thuyết kinh tế và pháp lý trụ cột. Thứ nhất là Lý thuyết trung gian tài chính của Gurley và Shaw, giải thích vai trò của ngân hàng thương mại trong việc tối ưu hóa chi phí giao dịch, xử lý thông tin bất cân xứng và biến đổi kỳ hạn của các dòng tiền giữa người tiết kiệm và người có nhu cầu sử dụng vốn. Thứ hai là Lý thuyết bất đối xứng thông tin của Akerlof và Stiglitz, giải thích vì sao sự tham gia của ngân hàng thương mại với tư cách là bên thẩm định, tư vấn và quản lý dòng tiền giúp gia tăng mức độ tín nhiệm cho các đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình so sánh giữa mô hình ngân hàng chuyên doanh tách biệt theo Đạo luật Glass-Steagall năm 1933 của Hoa Kỳ và mô hình ngân hàng đa năng một phần đang được áp dụng tại các nước như Vương quốc Anh và Canada. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Khái niệm dịch vụ ngân hàng thương mại theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và cam kết WTO, phân định rõ giữa hoạt động tín dụng truyền thống và dịch vụ phi tín dụng.
  • Khái niệm trái phiếu doanh nghiệp và phát hành trái phiếu riêng lẻ, xác định là hoạt động chào bán chứng khoán nợ cho dưới 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng theo Nghị định số 90/2011/NĐ-CP.
  • Khái niệm các nhóm nghiệp vụ dịch vụ: Tư vấn lập phương án và bản công bố thông tin, đại lý quản lý tài khoản và thanh toán, bảo lãnh phát hành và bảo lãnh thanh toán.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam bao gồm Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và 2010, Luật Chứng khoán năm 2006, Nghị định số 52/2006/NĐ-CP, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, Thông tư số 28/2011/TT-NHNN, Thông tư số 210/2012/TT-BTC, cùng các báo cáo chuyên sâu của Ngân hàng Phát triển Châu Á và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát có chủ đích trên tổng thể 44 thành viên thuộc hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt EBT tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (bao gồm 17 ngân hàng thương mại và 27 công ty chứng khoán) cùng 58 tổ chức thành viên thuộc Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam VBMA tính đến năm 2011 trên địa bàn Hà Nội. Việc lựa chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao nhất vì đây là những định chế tài chính dẫn dắt trên 90% khối lượng giao dịch và dịch vụ trái phiếu của thị trường.

Timeline nghiên cứu bao quát tiến trình phát triển từ năm 2000 đến năm 2013. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học đối chiếu với pháp luật Hoa Kỳ và các nước châu Âu, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp quy nạp. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đánh giá chính xác tính tương thích giữa pháp luật ngân hàng và pháp luật chứng khoán, phát hiện các điểm nghẽn thể chế khi chuyển dịch mô hình ngân hàng tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam có sự gia tăng về khối lượng nhưng tiềm ẩn rủi ro cơ cấu lớn. Trong năm 2011, tổng khối lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành thành công đạt 8.859,3 tỷ đồng trên tổng số 9.404,5 tỷ đồng đăng ký chào bán, tương ứng với tỷ lệ thành công đạt 94,2%, bình quân mỗi tháng phát hành thành công khoảng 738,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, trên 70% khối lượng phát hành thành công lại được mua bởi chính các ngân hàng thương mại thay vì các nhà đầu tư tổ chức phi ngân hàng, biến kênh trái phiếu doanh nghiệp thành công cụ chuyển đổi dư nợ tín dụng để lách các chỉ tiêu an toàn trước thời điểm Thông tư số 28/2011/TT-NHNN ban hành.

Thứ hai, luận văn phát hiện sự xung đột pháp lý trực tiếp giữa hai đạo luật chủ chốt. Cụ thể, Khoản 2 Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định ngân hàng thương mại chỉ được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán thông qua việc thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết. Tuy nhiên, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP tại Điều 17 ra đời sau đó vẫn cho phép các tổ chức tín dụng được trực tiếp cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu nếu đáp ứng điều kiện do cơ quan có thẩm quyền quy định. Sự bất cập này tạo ra sự lúng túng cho các ngân hàng thương mại khi triển khai dịch vụ trên thực tế.

Thứ ba, cơ chế pháp lý về bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát sở hữu chéo trong hoạt động tư vấn còn tồn tại lỗ hổng lớn. Khi Thông tư số 210/2012/TT-BTC thay thế Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC, các quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp và nghĩa vụ cụ thể của tổ chức tư vấn bị lược bỏ đối với khối ngân hàng thương mại. Hơn nữa, quy định cấm công ty chứng khoán tư vấn cho doanh nghiệp mà mình sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên không được áp dụng tương tự đối với ngân hàng thương mại, dẫn đến nguy cơ xung đột lợi ích rất cao.

Thứ tư, công tác thanh tra, giám sát thị trường đã bộc lộ nhiều sai phạm điển hình. Điển hình như kết luận thanh tra của Ngân hàng Nhà nước ngày 16/01/2013 yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín thu hồi toàn bộ 800 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi của Công ty Cổ phần Chứng khoán SBS do thực hiện mua bán trái phiếu sơ cấp sai quy định pháp luật thông qua công ty trung gian.

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|  BẢNG TỔNG HỢP SO SÁNH QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------------+
| Nghiệp vụ dịch vụ     | Ngân hàng thương mại        | Công ty chứng khoán         |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------------+
| Tư vấn phát hành      | Được phép (Điều 107 Luật    | Được phép (Điều 60 Luật     |
|                       | TCTD 2010 khi NHNN chấp     | Chứng khoán 2006)           |
|                       | thuận)                      |                             |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------------+
| Bảo lãnh phát hành    | Bắt buộc qua công ty con    | Được trực tiếp thực hiện    |
|                       | (Khoản 2 Điều 103 Luật      | khi có nghiệp vụ tự doanh   |
|                       | TCTD 2010)                  |                             |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------------+
| Đại lý thanh toán,    | Được trực tiếp thực hiện    | Hạn chế, phải liên kết      |
| quản lý tài khoản     | theo nghiệp vụ thanh toán   | với ngân hàng để mở tài     |
|                       | cơ bản                      | khoản chuyên dụng           |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------------+
| Lưu ký trái phiếu     | Phải có giấy phép của Bộ    | Hoạt động chuyên trách theo |
|                       | Tài chính và NHNN           | đăng ký với VSD             |
+-----------------------+-----------------------------+-----------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những bất cập nêu trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa cơ quan quản lý tiền tệ là Ngân hàng Nhà nước và cơ quan quản lý thị trường chứng khoán thuộc Bộ Tài chính. Sự can thiệp hành chính thông qua Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 01/03/2011 và Thông tư số 28/2011/TT-NHNN đã làm suy giảm ngay lập tức tính thanh khoản của thị trường sơ cấp, khiến thị trường trái phiếu rơi vào trạng thái đóng băng trong quý 2 năm 2011.

So sánh với thông lệ quốc tế, Việt Nam đang áp dụng mô hình ngân hàng đa năng một phần nhưng chưa xây dựng được cơ chế giám sát rủi ro lan truyền giữa mảng ngân hàng thương mại và mảng công ty con chứng khoán. Dữ liệu nghiên cứu giai đoạn 2003-2012 khi được biểu diễn trên biểu đồ tương quan phản ánh rõ nét tính chu kỳ của thị trường nợ: Khi chính sách tín dụng thắt chặt nhưng khung pháp lý trái phiếu chưa hoàn thiện, các ngân hàng có xu hướng sử dụng nghiệp vụ tư vấn và đại lý phát hành để cơ cấu lại các khoản nợ xấu của doanh nghiệp thành trái phiếu doanh nghiệp, đe dọa an toàn tài chính hệ thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và sửa đổi đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần khẩn trương sửa đổi Nghị định số 90/2011/NĐ-CP theo hướng chuẩn hóa các quy định tại Điều 17 để tương thích hoàn toàn với Khoản 2 Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Quy định rõ ràng việc ngân hàng thương mại chỉ được cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành thông qua công ty con độc lập, mục tiêu loại bỏ 100% tình trạng chồng chéo giữa luật chuyên ngành ngân hàng và chứng khoán trong thời gian 12 tháng.

Thứ hai, ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể điều kiện cung ứng dịch vụ đại lý phát hành, đại lý thanh toán và quản lý tài khoản trái phiếu cho ngân hàng thương mại. Quy định rõ nghĩa vụ thẩm định tình trạng pháp lý dự án, duy trì tỷ lệ an toàn vốn và bổ sung quy chế ngăn ngừa xung đột lợi ích, cấm ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn phát hành cho doanh nghiệp mà ngân hàng sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên, thực hiện trong giai đoạn 2014-2015.

Thứ ba, thiết lập cơ chế giám sát liên ngành đồng bộ giữa Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Xây dựng hệ thống dữ liệu điện tử tích hợp kết nối mạng giao dịch EBT của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán VSD với cơ sở dữ liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Đích đến là giám sát tự động 100% các đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ có quy mô từ 100 tỷ đồng trở lên theo lộ trình đến năm 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh cơ cấu lại cơ sở nhà đầu tư trên thị trường nợ. Khuyến khích các định chế tài chính phi ngân hàng như bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí tự nguyện và quỹ đầu tư tham gia thị trường sơ cấp. Phấn đấu giảm tỷ trọng nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp của hệ thống ngân hàng thương mại từ mức trên 70% xuống dưới 40% vào năm 2020 theo định hướng tại Quyết định số 261/QĐ-BTC.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Khối Pháp chế và Khối Ngân hàng Đầu tư tại các ngân hàng thương mại cổ phần và công ty chứng khoán. Nghiên cứu cung cấp khung pháp lý toàn diện và các phân tích hợp đồng mẫu, giúp chuyên viên thiết kế an toàn các gói dịch vụ tư vấn phát hành, hợp đồng đại lý quản lý tài khoản và hợp đồng đại lý thanh toán.

Nhóm thứ hai là Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám đốc và Giám đốc Tài chính của các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn. Luận văn giúp doanh nghiệp nắm vững các điều kiện phát hành trái phiếu riêng lẻ theo Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, tối ưu hóa chi phí vốn so với vay tín dụng và chủ động lựa chọn đối tác ngân hàng cung ứng dịch vụ phù hợp.

Nhóm thứ ba là Các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Tài liệu đóng vai trò là căn cứ thực tiễn sắc bén phục vụ việc hoạch định chính sách, hoàn thiện các thông tư hướng dẫn và thiết kế cơ chế thanh tra liên ngành.

Nhóm thứ tư là Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng và Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về mô hình ngân hàng đa năng, kỹ thuật lập pháp tài chính và cơ chế quản trị rủi ro trên thị trường chứng khoán nợ.

Câu hỏi thường gặp

Ngân hàng thương mại có được trực tiếp cung ứng dịch vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp không?

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng thương mại không được trực tiếp thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán mà bắt buộc phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết chuyên trách để thực hiện nghiệp vụ này nhằm cách ly rủi ro tài chính.

Phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp khác biệt căn bản với phát hành ra công chúng ở những điểm nào?

Điểm khác biệt cốt lõi là phát hành riêng lẻ chỉ được chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP, với thủ tục đơn giản hơn và thời hạn tối thiểu 1 năm.

Tại sao Ngân hàng Nhà nước lại ban hành Thông tư số 28/2011/TT-NHNN thắt chặt việc mua trái phiếu doanh nghiệp?

Văn bản này được ban hành nhằm ngăn chặn tình trạng ngân hàng thương mại mua trái phiếu doanh nghiệp để lách trần tăng trưởng tín dụng quy định tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN, đồng thời thiết lập các tỷ lệ an toàn vốn nghiêm ngặt nhằm kiểm soát chất lượng tín dụng ngầm.

Ngân hàng thương mại giữ vai trò gì trong việc bảo vệ quyền lợi của trái chủ khi phát hành riêng lẻ?

Ngân hàng thương mại đóng vai trò là đại lý quản lý tài khoản và đại lý thanh toán độc lập, chịu trách nhiệm giám sát dòng tiền thu được từ đợt phát hành, quản lý tài sản bảo đảm và thực hiện thanh toán gốc, lãi đúng cam kết trong bản công bố thông tin.

Vụ việc thu hồi 800 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi của Sacombank năm 2013 mang lại bài học pháp lý gì?

Kết luận thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đầu năm 2013 cho thấy các ngân hàng thương mại không được phép mua trái phiếu chuyển đổi phát hành lần đầu trên thị trường sơ cấp thông qua công ty trung gian khi chưa có sự chấp thuận bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại với tổng tài sản tương đương 140% GDP trong việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn xung đột pháp lý giữa Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 17 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP trong việc phân định phạm vi hoạt động dịch vụ của ngân hàng.
  • Làm rõ thực trạng năm 2011 khi tỷ lệ phát hành thành công đạt 94,2% với giá trị 8.859,3 tỷ đồng nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn do phụ thuộc vào nguồn vốn mua chéo của các ngân hàng thương mại.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch sang mô hình ngân hàng đa năng một phần có kiểm soát, tách biệt rủi ro thông qua các công ty con kinh doanh chứng khoán độc lập.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và cơ chế giám sát liên ngành giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính nhằm hiện thực hóa mục tiêu Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu đến năm 2020 theo Quyết định số 261/QĐ-BTC.