Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ 1. Về thuật ngữ xã hội dân sự Khái niệm tiếng Anh “civil society” dược dịch ra tiếng Việt là “xã hội dân sự”, liên quan đến khái niệm xã hội dân sự ở Việt Nam còn có thuật ngữ “xã hội công dân”, “xã hội thị dân”. Thuật ngữ “Xã hội công dân” có xuất xứ từ kinh điển Mác – Lênin. Trong các tác phẩm của Karx và Friedirich Engels thuật ngữ “xã hội công dân” đôi khi được hiểu là “xã hội thị dân” [65, tr.
Một cách nhìn tổng quát xã hội dân sự là khu vực hình thành tự phát từ những nhóm, cộng đồng người có chung lợi ích nhu cầu, sở thích, giới tính, chính kiến, nghề nghiệp,… Do đó, xã hội dân sự có lịch sử từ xa xưa khi con người biết tụ tập kết nối kiểu phường, hội, nguồn gốc, khởi thủy của xã hội dân sự có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng từ thời nô lệ, từ khi có nhà nước là đã có sự hình thành nhóm đối tác hoặc đối trọng dù là tự phát manh mún, cũng có ý kiến cho rằng xã hội dân sự chỉ hình thành từ thời kỳ phong kiến, liên gia phường hội buôn bán hoặc giao lưu văn hóa hội hè. Trong các tác phẩm kinh điển của nhà tư tưởng triết học, chính trị học, có nhiều bàn luận về khái niệm và nội hàm của xã hội dân sự. Có thể lấy ví dụ tiêu biểu như: Nhà triết học thời cổ đại Arisote cho rằng xã hội dân sự được tổ chức qua quan hệ của những người bạn bè cùng chung tư tưởng, qua đó họ khám phá và biểu tưởng bằng hoạt động vị lợi ích chung, và vì đời sống công cộng, bên ngoài nhà nước.
Nhà triết học Anh Thomas Hobbes theo chủ nghĩa duy vật, người coi trạng thái tự nhiên của xã hội là “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả” (phản ánh tình trạng xâu xé nhau trong xã hội vào thời “tích lũy nguyên thủy” của 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ nghĩa tư bản), cũng đặt rất cao vị trí của nhà nước. Ông cho rằng nhà nước có sứ mệnh khắc phục trạng thái “chiến tranh” ấy bằng cách thiết lập một sự thỏa thuận giữa tất cả các thành viên của xã hội. Xã hội công dân nảy sinh trên cơ sở thỏa thuận ấy được ông coi là đồng nghĩa với nhà nước và những luật pháp của nó. Nói cách khác, Hobbes coi trạng thái tự nhiên của xã hội là tiêu cực, trong đó, người là chó sói với người, nhưng lại coi “xã hội công dân” là tích cực, trong đó, mọi người đánh đổi tự do tuyệt đối lấy sự an ninh của mình (do nhà nước bảo trợ).
Ðến thế kỷ XVIII, J. Rousseau, một trong những nhà Khai sáng xuất sắc nhất, đã tiếp nhận và phát triển quan điểm của Hobbes lên một trình độ hoàn chỉnh hơn. Ðối với ông, con người vì mất đi sự tự do tự nhiên của mình và cũng vì sợ mất đi cả các quyền tự nhiên của mình nên đã đi tới một khế ước xã hội (Khế ước xã hội là tên cuốn sách nổi tiếng nhất của ông) để bảo đảm một “hình thức liên hiệp” nhằm bảo vệ, bằng toàn bộ sức mạnh chung của xã hội, các cá nhân cũng như tài sản của các thành viên tham gia liên hiệp. Nhờ có sự liên hiệp này mà người ta thống nhất lại với nhau trên cơ sở phục tùng những thể thức chung, nhưng mỗi người vẫn có tự do như trước đây.
Sự liên hiệp này, theo ông, đã từng mang tên gọi Công xã nhân dân, và bây giờ lại có tên Cộng hòa hay Cơ chế chính trị. Các thành viên xã hội gọi cơ chế chính trị ấy là nhà nước. Còn họ thì được gọi là nhân dân nói chung và công dân nói riêng. Ở đây, có một điểm cần đặc biệt chú ý: Tất cả các tác giả thời đó (T.) đều đặt ra vấn đề tự do cá nhân của công dân, độc lập với nhà nước.
Theo Locke, chẳng hạn, xã hội có trước Nhà nước, nó tồn tại một cách “tự nhiên”, còn nhà nước là một “vật mới”. Nếu chính phủ vì một lý do nào đó bị xóa bỏ đi thì xã hội vẫn được duy trì bằng tất cả các luật và quyền tự nhiên của nó. Nhân dân hợp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành xã hội, nó là tối thượng (souverain) và khi thiết lập nhà nước, tuy tính tối thượng chuyển sang nhà nước nhưng nhà nước không thể nuốt mất xã hội. Hơn thế nữa, mục đích chủ yếu của nhà nước là bảo vệ xã hội.
Do đó, nhà nước không thể thay thế được xã hội, chính là nhờ có xã hội mà nhà nước có thể hoạt động được [65, tr. Người sáng lập phép biện chứng duy tâm, nhà triết học vĩ đại người Đức Friedrich Hegel đã chỉ ra vị trí của lĩnh vực xã hội dân sự, theo ông thì xã hội dân sự được duy trì bởi “con người kinh tế” – đó là lĩnh vực của hành động đạo đức, là mạng lưới quan hệ xã hội, nằm giữa gia đình và nhà nước, gắn kết những cá nhân tự chủ với nhau, thông qua môi trường trung gian là tự do đạo đức. Ông còn bày tỏ mối e ngại về năng lực tự tổ chức và tự điều tiết của xã hội dân sự và nhấn mạnh vai trò của nhà nước điều tiết đối với xã hội dân sự, nhà nước và xã hội dân sự phụ thuộc lẫn nhau, song mối quan hệ này là đầy căng thẳng và đòi hỏi có luật để cân bằng mối quan hệ. Tác phẩm Triết học pháp quyền của ông đã chứng minh rằng xã hội dân sự là một giai đoạn phát triển lịch sử mà đỉnh cao của nó là sự xuất hiện nhà nước hiện đại.
Nói chính xác hơn, Hegel coi xã hội dân sự là một giai đoạn đặc biệt trong sự vận động biện chứng từ gia đình đến nhà nước, diễn ra trong quá trình biến đổi lịch sử phức tạp và lâu dài từ Trung cổ đến Cận đại. Theo ông, đời sống xã hội hoàn toàn khác với đời sống đạo đức của gia đình và cũng khác với đời sống công cộng của nhà nước. Nó là một yếu tố cần thiết trong toàn bộ cộng đồng chính trị được tổ chức một cách hợp lý. Theo Hegel, kinh tế thị trường, các giai cấp xã hội, nghiệp đoàn, định chế có nhiệm vụ bảo đảm sức sống của xã hội và thực hiện các quyền công dân.
Như vậy, xã hội dân sự là tập hợp của những tư nhân, tầng lớp, những nhóm và những định chế mà sự tác động qua lại của chúng được điều chỉnh bằng qui tắc của dân luật và với tư cách đó, nó không phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước chính trị. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Còn theo quan điểm của Karl Marl thì “xã hội dân sự là lĩnh vực được cấu thành bởi sản xuất, giai cấp và các quan hệ chính trị xã hội liên quan, quan tâm của xã hội dân sự là làm thế nào để lĩnh vực cạnh tranh hỗn độn trở thành đối tượng của giám sát công cộng”. Marx, trong các tác phẩm đầu tay, đặc biệt trong Hệ tư tưởng Đức và vấn đề Do Thái, đã bàn nhiều về xã hội dân sự. Một mặt, kế thừa những luận điểm "hợp lý" của Hegel; mặt khác, ông phê phán Hegel một cách quyết liệt.
Cũng như Hegel, ông từng coi xã hội dân sự là một hiện tượng lịch sử, là kết quả của sự phát triển lịch sử mà không phải là "vật ban tặng" của tự nhiên. Và cũng như Hegel, ông coi xã hội dân sự có tính chất tạm thời. Sự khác nhau cơ bản giữa Marx và Hegel là điểm xuất phát khi phân tích về bản chất của xã hội dân sự và nhà nước, về những quan hệ giữa xã hội dân sự với nhà nước. Trong khi Hegel lấy "tinh thần phổ biến" và "ý niệm tuyệt đối" làm điểm xuất phát thì Marx lấy đời sống hiện thực, trước hết là phương thức sản xuất của xã hội, làm điểm xuất phát.
"Sự giải phóng chính trị là đưa con người, một mặt, trở thành thành viên của xã hội thành cá nhân vị kỷ và độc lập, và mặt khác, trở thành công dân, thành cá nhân đạo đức". Ông cho rằng chỉ khi nào sức mạnh con người được tổ chức thành sức mạnh xã hội và chính trị, khi đó sự giải phóng con người mới hoàn thành.Trong tác phẩm Phê phán triết học chính trị của Hegel (1843), Marx trực tiếp chống lại những ý kiến của Hegel về xã hội dân sự và nhà nước. Một mặt, ông chống lại sự tuyệt đối hóa nhà nước của Hegel; mặt khác ông phê phán cơ sở chủ yếu của xã hội dân sự là chế độ sở hữu tư nhân. Có thể thấy, khái niệm xã hội dân sự xuất hiện chủ yếu là sản phẩm trí tuệ của châu Âu thế kỷ XVIII, khi các công dân tìm kiếm cách thức để xác định vị trí của bản thân trong xã hội, độc lập với nhà nước quân chủ, và ở vào giai đoạn khi mà nền tảng của một trật tự xã hội dựa trên vị thế bắt đầu bị lung lay, suy giảm và theo chiều hướng không thể đảo ngược.
Theo đó, các nhà tư tưởng đã bàn luân về các đặc điểm, chiều cạnh, mối quan hệ giữa xã 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội dân sự – nhà nước – thị trường. Chẳng hạn, tác giả Adam Smith cho rằng thương mại nói chung và việc buôn bán giữa các công dân nói riêng đã không những tạo ra của cải mà còn tạo ra cả những mối liên hệ vô hình giữa con người với con người – cội nguồn để tạo xã lòng tin – “vốn xã hội” – nói theo ngôn ngữ kinh tế, xã hội hiện đại. Mặc dù các khái niệm xã hội dân sự có lịch sử phát triển lâu dài và phong phú, song chỉ vào khoảng 2 thập kỷ gần đây nó mới trở thành trọng tâm chú ý trên các diễn đàn công luận quốc tế. Giải thích cho điều này có thể thấy nguyên nhân là do sự sụp đổ của khối các nước cộng sản Đông Âu, quá trình dân chủ hóa mở rộng, thay đổi mô hình phát triển kinh tế quá khứ, mong muốn cùng nhau đối mặt và giải quyết những thách thức bất ổn nảy sinh và tăng cường các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trên toàn thế giới.