Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đƣơng sự trong vụ án dân sự. Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đƣơng sự trong vụ án dân sự. Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đƣơng sự trong vụ án dân sự và kiến nghị. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ 1.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm đƣơng sự trong vụ án dân sự Trong các VADS thì đƣơng sự là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ; tham gia VADS với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc trong một số trƣờng hợp tuy họ không có quyền, lợi ích liên quan đến VADS nhƣng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nƣớc, lợi ích của ngƣời khác. Hoạt động tố tụng của đƣơng sự trong VADS có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ vụ án, họ là một thành phần chủ yếu của VADS, nếu không có đƣơng sự thì không có VADS tại Tòa án. Các chủ thể đƣợc xác định là đƣơng sự trong VADS trƣớc hết phải là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung (dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động).
Do các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung phong phú và đa dạng nên các chủ thể có thể đƣợc xác định là đƣơng sự cũng đƣợc mở rộng. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung đều có thể trở thành đƣơng sự trong các VADS. Khi các chủ thể trong các quan hệ pháp luật nội dung tôn trọng lợi ích của nhau, thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ pháp lý với nhau thì sẽ không dẫn đến việc khởi kiện và không có hoạt động tố tụng giải quyết thì các chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung này không trở thành đƣơng sự trong VADS. Các nhà luật học có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đƣơng sự.
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, "đƣơng sự là ngƣời, là đối tƣợng trong một vụ việc nào đó đƣợc đƣa ra giải quyết" [43, tr. Trong cuốn Từ điển Luật học đƣợc xuất bản năm 1999 thì "đƣơng sự là ngƣời có quyền, nghĩa vụ đƣợc giải quyết trong một khiếu nại hoặc một vụ án" [33, tr. Theo cuốn Từ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tƣ pháp) thì đƣơng sự đƣợc hiểu là: Cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng dân sự với tƣ cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đƣơng sự là một trong các nhóm ngƣời tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thƣơng mại, hôn nhân gia đình và lao động [41, tr.
Nhƣ vậy, về lý luận đƣơng sự là những ngƣời tham gia vào quá trình giải quyết VADS vì họ có quyền, nghĩa vụ đƣợc giải quyết trong VADS. Xuất phát từ đó Điều 56 BLTTDS đã đƣa ra khái niệm đƣơng sự trong VADS nhƣ sau: "Đƣơng sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" [17]. Đối chiếu khái niệm đƣơng sự đƣợc quy định tại BLTTDS với các quy định của pháp luật về TTDS qua các giai đoạn lịch sử khác nhau có thể nhận thấy: Pháp luật TTDS Việt Nam đƣợc hình thành và phát triển ngay sau khi Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số 47/SL cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ, viện dẫn đến việc áp dụng các quy định tố tụng thủ tục tại Nghị định của toàn quyền Đông Dƣơng và Bộ luật tố tụng thủ tục Pháp.
Ngoài ra, Nhà nƣớc ta còn ban hành hàng loạt các Sắc lệnh trong đó cho phép Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng để giải quyết tranh chấp dân sự, ví dụ: Sắc lệnh 13/S ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung Sắc lệnh 51/SL; Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 quy định thể thức thi hành án; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 cải cách bộ máy Tƣ pháp và luật tố tụng; Sắc lệnh số 159/SL ngày 07/11/1950 quy định vấn đề ly hôn [42]. Tuy nhiên, có một thực tế trong giai đoạn đầu các văn bản TTDS chủ yếu quy định chung về thủ tục TTDS mà không quy định cụ thể về đƣơng sự. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1954 Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nƣớc ta cũng rất quan tâm tới việc xây dựng pháp luật. Đáng kể là sau khi Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức TAND năm 1960 đƣợc ban hành, TANDTC đã cho xây dựng nhiều văn bản hƣớng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, ví dụ: Thông tƣ số 614/DS ngày 24-4-1963 hƣớng dẫn một số thủ tục tố tụng cho Tòa án địa phƣơng, Thông tƣ số 03/NCPL ngày 03-3-1966 về trình tự giải quyết việc ly hôn, Thông tƣ số 25/TATC ngày 30-11-1974 hƣớng dẫn về hòa giải trong TTDS.
Trong số các văn bản pháp luật này, ở mức độ khác nhau đều có quy định về đƣơng sự trong VADS. Mặc dù vậy những quy định này chỉ có thể dừng lại ở việc hiểu đƣơng sự là các bên tham gia vào VADS bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Qua đó có thể thấy các quy định về đƣơng sự trong VADS trƣớc năm 1989 còn tản mạn, chƣa đƣợc hệ thống hóa thành điều khoản riêng quy định về thành phần đƣơng sự và thiếu cụ thể. Tuy nhiên, từ năm 1989 Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTDS nhƣ Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) năm 1989.
Đây là văn bản pháp luật đầu tiên pháp điển hóa những quy định về thủ tục giải quyết VADS, đặc biệt là đã đề cập trực tiếp đến khái niệm "đƣơng sự". Điều 19 của PLTTGQCVADS (1989) quy định: Công dân, pháp nhân tham gia tố tụng với tƣ cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trƣờng hợp Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì ngƣời có quyền lợi đƣợc bảo vệ có thể tham gia tố tụng với tƣ cách nguyên đơn [36]. Đến năm 1994, Nhà nƣớc ta tiếp tục ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT), năm 1996 ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ).
Hai pháp lệnh này đã bổ sung thêm quy định về đƣơng sự, PLTTGQCVAKT quy định 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com "đƣơng sự là cá nhân, pháp nhân" (Điều 20); PLTTGQCTCLĐ quy định "đƣơng sự là cá nhân, tập thể lao động, tổ chức sử dụng lao động" (Điều 19). Với quy định nhƣ vậy, các tổ chức không có tƣ cách pháp nhân nhƣ tổ hợp tác xã, doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp hợp doanh… không phải là đƣơng sự. Do đó, quy định nhƣ trên không bao quát đƣợc tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã đƣợc quy định trong Bộ luật dân sự (BLDS). Đồng thời chƣa liệt kê hết các chủ thể và chƣa diễn đạt chính xác về thành phần đƣơng sự.
Năm 2004, BLTTDS ra đời đã khắc phục đƣợc những thiếu sót trong các pháp lệnh tố tụng và bao quát đƣợc các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đƣợc quy định trong BLDS. Khoản 1 Điều 56 BLTTDS quy định "Đƣơng sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan" [17]. Nhƣ vậy, rút gọn lại thì đƣơng sự trong BLTTDS là cá nhân, cơ quan và tổ chức. Đƣơng sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài, ngƣời không có quốc tịch.
Điều này đồng nghĩa với việc đƣơng sự có thể là công dân Việt Nam hoặc không. Đƣơng sự là cơ quan bao gồm các cơ quan nhà nƣớc, đơn vị vũ trang nhân dân. Cơ quan tham gia VADS thông qua ngƣời đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Thông thƣờng một cơ quan gồm nhiều bộ phận cấu thành, về nguyên tắc nếu những bộ phận cấu thành này không có quyền độc lập về tài sản thì các bộ phận này không thể tham gia tố tụng với tƣ cách đƣơng sự.
Tuy nhiên, đối với những bộ phận trong cơ quan nhƣng lại có quyền độc lập về tài sản, có quyền tham gia các quan hệ dân sự với tƣ cách độc lập thì bộ phận này có thể có quyền tham gia TTDS độc lập. Bên cạnh đó, theo quy định của BLTTDS thì đƣơng sự trong VADS còn là tổ chức. Từ điển tiếng Việt giải thích "tổ chức là tập hợp ngƣời có trật tự, có nề nếp, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm mục đích chung". Tổ chức có thể có các dạng sau: 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp nhân: Là tổ chức có đủ bốn điều kiện quy định tại Điều 94 BLDS.
Theo quy định tại Điều 110 BLDS, pháp nhân bao gồm các loại tổ chức sau đây: Đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện; các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 BLDS. Cần chú ý: Pháp nhân bao gồm các loại tổ chức đó chứ không phải các loại tổ chức đó đều là pháp nhân, các tổ chức phải có đủ bốn điều kiện quy định tại Điều 94 BLDS mới là pháp nhân. Tổ chức không phải là pháp nhân (khoản 3 Điều 62 BLTTDS): là các tổ chức quy định tại Điều 1 (trừ cơ quan nhà nƣớc) nhƣng không có đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 BLDS. Tuy nhiên, các tổ chức này hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào một cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức nào khác về tài sản, có tƣ cách riêng, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, đƣợc thành lập và hoạt động theo một quy tắc nhất định và đƣợc pháp luật công nhận (công nhận tổ chức đó nhƣng không công nhận là pháp nhân).