Tiếng Cười Trong Thơ Tú Mỡ: Khám Phá Nghệ Thuật Và Ý Nghĩa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn học việt nam tiếng cười trong thơ tú mỡ, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực văn học.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

122
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Tiếng cười trong thơ Tú Mỡ không chỉ đơn thuần là một hiện tượng sinh lý mà còn là một hiện tượng tâm lý xã hội. Nó phản ánh những mâu thuẫn trong cuộc sống, từ đó tạo ra những tác phẩm nghệ thuật sâu sắc. Thơ Tú Mỡ mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, thể hiện sự tinh tế trong việc sử dụng tiếng cười để phê phán xã hội.

1.1. Khái niệm tiếng cười trong văn học Việt Nam

Tiếng cười trong văn học Việt Nam được hiểu là một hình thức thể hiện của cái Hài, phản ánh những mâu thuẫn trong xã hội. Nó không chỉ là sự giải trí mà còn là một phương tiện để phê phán và chỉ trích.

1.2. Vai trò của tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Tiếng cười trong thơ Tú Mỡ đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của tác giả. Nó giúp người đọc nhận thức rõ hơn về những vấn đề xã hội và con người.

II. Những thách thức trong việc phân tích tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Phân tích tiếng cười trong thơ Tú Mỡ gặp nhiều thách thức do sự đa dạng trong cách thể hiện và ý nghĩa của nó. Các tác phẩm của ông thường chứa đựng nhiều lớp nghĩa, đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn sâu sắc.

2.1. Đối tượng tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Đối tượng tiếng cười trong thơ Tú Mỡ rất phong phú, từ những hủ tục, mê tín dị đoan đến những vấn đề xã hội nóng bỏng. Điều này tạo ra sự đa dạng trong cách thể hiện và ý nghĩa của tiếng cười.

2.2. Những khó khăn trong việc nhận diện tiếng cười

Việc nhận diện tiếng cười trong thơ Tú Mỡ không hề đơn giản. Nhiều khi, tiếng cười được ẩn giấu sau những hình ảnh và ngôn từ tinh tế, đòi hỏi người đọc phải có sự nhạy bén.

III. Phương pháp phân tích tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Để phân tích tiếng cười trong thơ Tú Mỡ, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ phân tích ngữ nghĩa đến so sánh với các tác phẩm khác. Điều này giúp làm rõ hơn giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác giả.

3.1. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa

Phân tích ngữ nghĩa giúp làm rõ các lớp nghĩa của tiếng cười trong thơ Tú Mỡ. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn về bối cảnh xã hội mà tác giả sống.

3.2. Phương pháp so sánh với các tác phẩm khác

So sánh với các tác phẩm khác trong văn học Việt Nam giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng của tiếng cười trong thơ Tú Mỡ. Điều này cũng giúp nhận diện những ảnh hưởng và sự phát triển của thể loại này.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Tiếng cười trong thơ Tú Mỡ không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giáo dục và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Nó giúp người đọc nhận thức rõ hơn về cuộc sống và con người.

4.1. Giá trị giáo dục của tiếng cười

Tiếng cười trong thơ Tú Mỡ có giá trị giáo dục cao, giúp người đọc nhận thức về những vấn đề xã hội và con người. Nó khuyến khích sự tư duy và phản biện.

4.2. Tác động đến tâm lý người đọc

Tiếng cười trong thơ Tú Mỡ có tác động tích cực đến tâm lý người đọc, giúp họ cảm thấy thoải mái và lạc quan hơn trong cuộc sống. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện nay.

V. Kết luận về tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Tiếng cười trong thơ Tú Mỡ là một yếu tố nghệ thuật độc đáo, phản ánh sâu sắc những mâu thuẫn trong xã hội. Nó không chỉ mang lại tiếng cười mà còn là một phương tiện để phê phán và chỉ trích xã hội.

5.1. Tương lai của nghiên cứu tiếng cười trong thơ Tú Mỡ

Nghiên cứu tiếng cười trong thơ Tú Mỡ vẫn còn nhiều tiềm năng. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khai thác và làm rõ hơn những giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác giả.

5.2. Ý nghĩa của tiếng cười trong văn học hiện đại

Tiếng cười trong văn học hiện đại vẫn giữ vai trò quan trọng. Nó không chỉ giúp giải trí mà còn là một phương tiện để phản ánh và phê phán xã hội.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ văn học việt nam tiếng cười trong thơ tú mỡ

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cuốn Tiếng cười Việt Nam bằng lối nói hình ảnh: “Tiếng cười của con người khác với tiếng hót của chim hay tiếng hí của ngựa. Nó không chỉ là một hiện tượng sinh lý mà nhiều khi còn là một hiện tượng tâm lí xã hội. Cười là hiện tượng khi thấy trong mình khoan khoái hoặc về thể chất, hoặc về tinh thần, và cũng cười khi thấy sự vật đáng cười nữa” [41, 10]. Có lẽ dân tộc nào cũng thế, cười không chỉ là biểu hiện vẻ đẹp trên nét mặt (Miệng cười như thể hoa ngâu – ca dao) mà còn là biểu hiện của một nội dung tinh thần nhất định.

Do đó mới có các kiểu cười nụ, cười tươi, cười tủm, cười nhạt, cười gượng, cười thầm, cười hềnh hệch, cười ngặt nghẽo, cười gằn, cười khẩy, cười nửa miệng, cười ra nước mắt. Chúng tôi bám sát yêu cầu của luận văn, chỉ nghiên cứu tiếng cười với tư cách là một hiện tượng tâm lý xã hội phát sinh ra từ những mâu thuẫn của sự vật, cụ thể là mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, giữa hiện tượng và bản chất của sự vật. Tất nhiên, không phải mâu thuẫn trái tự nhiên nào, mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức nào hay mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất nào của sự vật cũng đáng cười và khiến người ta buồn cười. Cái mâu thuẫn không đáng cười là cái mâu thuẫn tất nhiên của sự vật, chiều hướng tiến triển của mâu thuẫn này sẽ thúc đẩy sự vật biến đổi để tiến thành cái khác.

Cái mâu thuẫn làm cho người ta phải cười là cái mâu thuẫn trái tự nhiên, cái mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, giữa cái thực và cái giả, giữa cái không che giấu và cái che giấu, giữa cái bản chất 15 và hiện tượng. Đó là cái mâu thuẫn ngược đời, quái gở, đáng lẽ không nên có mà lại cứ có. Cái mâu thuẫn trái với quy luật tự nhiên và xã hội ấy nó phải có ý nghĩa xấu xa, thì việc khám phá ra mâu thuẫn ấy mới làm cho người ta buồn cười và cười được. Chúng tôi cho rằng việc trích dẫn câu ca dao sau sẽ làm sáng rõ lý luận trên: Chuột trù chê cú rằng hôi Cú lại trả lời: Cả họ mày thơm.

Chuột trù hay cú thì đều là hai loài hôi cả. Trời sinh ra thế, chẳng ai cười làm gì, người ta cũng thấy bình thường như việc hoa bưởi, hoa nhài thơm thì ướp chè, thế thôi. Chuột trù chê cú hôi đã bộc lộ một mâu thuẫn: kẻ hay chê người lại đang chê bai kẻ khác ở cái điểm mà bản thân còn yếu hơn, xấu hơn họ. Câu trả lời của cú hay hơn nữa: “Cả họ mày thơm”.

Nghĩa là, cái chuyện cú hôi là chuyện tất nhiên, trời sinh, chẳng có gì xấu xa cả; chỉ có kẻ nào không tự biết thân biết phận, tự cao tự đại, đã xấu hay làm ra vẻ tốt mới đáng lên án, đáng cười. Mâu thuẫn giữa cái “thơm thật” và “thơm giả” ở đây đã vạch rõ bộ mặt thật của cả họ chuột trù. Và như thế thì không cần nhiều lời hay một tài liệu khoa học nào đưa ra để phản bác chuột trù nữa. Tiếng cười bật ra đã bịt mõm cả họ chuột trù rồi! Tất nhiên, hiện tượng mâu thuẫn giữa chuột trù với cú ở đây chỉ hiện tượng trong xã hội con người, và bài ca dao đã lột mặt nạ rởm đời của kẻ hay chê bai người khác, mà lại chê ở cái điểm mà bản thân mình lại không bằng người ta.

Ở đời nhiều việc như thế, bởi nó xuất phát từ thói xấu là hay tự cao và thói không muốn người khác hơn bản thân mình! Nói tóm lại, tiếng cười gắn bó mật thiết với phạm trù cái Hài. Tiếng cười là hình thức thể hiện của cái Hài. Tiếng cười trong thơ ca trào phúng là một yếu tố chủ quan của cái Hài. Với ý nghĩa là một phạm trù thẩm mỹ, cái Hài cho chúng ta hiểu đúng bản chất của nó về phương diện nghệ thuật khi nhận định về cái Xấu căn cứ vào quy luật của cái Đẹp.

Cái Xấu trở thành đối tượng của tiếng cười khi tự nó 16 không biết mình là xấu, không chịu chấp nhận mình là xấu, mà cố tình khoác lên mình một cái vỏ đẹp đẽ để che đậy. Khi cái Đẹp giả mạo bên ngoài bị bóc tuột, cái Xấu bên trong bị phơi bày, thì mâu thuẫn ấy bộc lộ cái Hài, và khi đó tiếng cười bật ra. Cái Hài là một bộ phận của cái- Xấu- nhưng- lại- không- đành- phận- xấu. Nó núp bóng cái Đẹp, cố làm ra đẹp, nhưng bị cái Đẹp chân chính đào thải.

Cái thấp kém, ươn hèn, xấu xa tự nó chưa có tính chất hài, mà nó chỉ mang tính hài khi nó làm ra vẻ cao cả. Hê-ghen chỉ rõ yếu tố tạo nên cái Hài là mâu thuẫn giữa cái quan trọng giả và cái quan trọng thật. Tiếng cười biểu hiện đánh giá chủ quan của mỗi người về cái Hài đó. Bởi thế, nghiên cứu về tiếng cười trong thơ Tú Mỡ có một nội dung quan trọng là nghiên cứu nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ, trong đó chúng tôi nhấn mạnh nghệ thuật tạo nên tiếng cười trong thơ ông.

Nghệ thuật trào phúng là một phương pháp bộc lộ những sai lầm của đối tượng, qua đó cải tạo đối tượng. Trong quá trình đó, tiếng cười bật ra bày tỏ thái độ phê phán hay khinh ghét, chứ không đơn thuần là tiếng cười dễ dãi. Tiếng cười trong thơ trào phúng thường chứa đựng những triết lý và những bài học sâu sắc. Có nhiều người cho rằng những câu ca dao sau có nội dung giễu cợt đơn thuần để người nông dân mua vui dưới gốc đa, mái đình mà thôi: Lỗ mũi mười tám gánh lông, Chồng yêu, chồng bảo: râu rồng trời cho.

Đêm nằm thì ngáy o o, Chồng yêu, chồng bảo: ngáy cho vui nhà. Đi chợ thì hay ăn quà, Chồng yêu, chồng bảo: về nhà đỡ cơm. Trên đầu những rác cùng rơm, Chồng yêu, chồng bảo: hoa thơm rắc đầu. Chắc rằng chẳng có người chồng nào muốn bày tỏ tình yêu với vợ bằng cách liệt kê các tật xấu của người vợ ra để kể như thế, mặc dầu kể bằng một lối thật “yêu”.

Chúng tôi cho rằng bài ca dao đó dựa vào tình cảm vợ chồng 17 chân thành để gửi đến người vợ lời nhắc nhở thẳng thắn. Người vợ nào bị nhắc nhở như thế chẳng phật lòng, và lại vui lòng xem xét lại những tật xấu ấy để sửa hoặc. thanh minh! Vấn đề là, bài ca dao đã mượn tiếng cười nhẹ nhàng để ý tứ chê những thói quen không tốt của người phụ nữ trong gia đình. Và đây là bài ca dao trào phúng.

Tiếng cười không thể thiếu và chưa bao giờ vắng bóng trong văn học Việt Nam. Ở nước ta, tiếng cười trong văn chương trào phúng bắt nguồn từ văn học dân gian. Thật dễ dàng tìm thấy tiếng cười trong các tác phẩm ca dao, hò, vè, truyện tiếu lâm, truyện cười, truyện Trạng, các vai hề chèo,. Đến cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, với các sáng tác của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, văn học trào phúng mới chính thức khơi dòng.

Vấn đề này sẽ được chúng tôi diễn giải sâu hơn ở phần 1. Theo Arixtotle: Cái đáng cười là cái xấu. Mâu thuẫn ngược đời và quái gở giữa nội dung và hình thức làm cho người ta phải buồn cười, nhưng nếu mâu thuẫn này lại quái gở đến mức quá kịch liệt thì cái hài sẽ biến thành cái bi, tiếng cười sẽ nhường chỗ cho tiếng than khóc, hay sẽ thay bằng một sự ngạc nhiên. Vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính có nhiều lớp chèo mà mâu thuẫn lên đến mức quá kịch liệt.

Đó là khi Thị Kính định cắt sợi râu mọc ngược của Thiện Sĩ thì bị nghi ngờ là giết chồng (!), sau đó bị vu oan trắng trợn; đó là khi Thị Mầu vu vạ cho tiểu Kính Tâm (vốn là Thị Kính giả trai đi nương nhờ cửa phật) làm cho thị có thai. Các mâu thuẫn trái tự nhiên đó không bật ra tiếng cười mà phát triển liên tiếp biến cái Hài thành cái Bi. Người xem chèo không khỏi thương xót thân phận Thị Kính hiền đức đáng thương và rồi ngợi ca đức độ của Phật bà Quan Âm. Tóm lại, cười là một hiện tượng sinh lý hoàn toàn của cá nhân do sự vui sướng, sự thỏa mãn về thể xác hay về tinh thần gây ra, nhưng nhiều khi cũng là một hiện tượng của tâm lý xã hội phát sinh ra từ những mâu thuẫn của sự vật, cụ thể là mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, giữa hiện tượng và bản chất của sự vật.

Các phương thức biểu hiện và các cấp độ của tiếng cười Tiếng cười có nhiều cung bậc và biểu hiện một nội dung tinh thần nhất định. Vì thế, tùy theo mục đích và yêu cầu của tiếng cười mà nó diễn ra theo phương thức này hay phương thức khác để đạt đến một ý nghĩa nào đấy. Căn cứ vào đó, chúng tôi tổng hợp thành năm phương thức biểu hiện tiếng cười như sau: Thứ nhất, là phương thức khôi hài, biểu hiện tiếng cười mua vui giải trí, cười để mà vui nhộn. Đây là tiếng cười hiền lành vô thưởng vô phạt.

Có thể bắt gặp phương thức này trong các truyện làng cười. Đây “là những câu chuyện mang dáng dấp của một câu nói ứng khẩu trong đời sống đời thường của người dân” [2,54]. Truyện Vần củ suốt đêm của làng cười Đồng Sài (Quế Võ, Bắc Ninh) kể theo phương thức khôi hài. Truyện kể về bốn tên ăn trộm đi đào trộm khoai, chỉ đào được một củ và tảng sáng đã bị lính tuần bắt vì củ khoai to quá, chúng.

vần đi không được! Thứ hai, là phương thức trào phúng - với ý nghĩa là khuyên đời, giáo dục. Theo Lỗ Tấn, thì trào phúng chẳng có gì khác là nói ra một sự thật mà không ai nói ra. Cái sự thật mà Lỗ Tấn nhắc đến tất nhiên phải chứa đựng mâu thuẫn, mâu thuẫn ấy phải được vạch trần sự quái gở, và nó được nhắc đi nhắc lại một số lần, nếu thường xuyên gặp quá thì nó trở thành bình thường và hết khả năng làm cho người ta cười. Tiếng cười có khi để chê bai, nhưng chê bai là để giáo dục.

Tiếng cười có thể hướng đến đối tượng là chính bản thân mình, bạn mình, hoặc cười kẻ thù. Cho nên Nguyễn Khuyến Tự trào: Ta cũng chẳng giàu, cũng chẳng sang Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. …Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ! Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng! Trên đây, mục đích của việc cười mình là tự nhắc nhở những điều mình đã làm và chưa làm được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tiếng Cười Trong Thơ Tú Mỡ: Nét Đặc Sắc Văn Học Việt Nam" khám phá sự độc đáo của tiếng cười trong thơ ca của Tú Mỡ, một trong những nhà thơ nổi bật của văn học Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh cách mà tiếng cười không chỉ mang lại niềm vui mà còn phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội, tâm tư của con người trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Độc giả sẽ tìm thấy những phân tích tinh tế về ngôn ngữ, hình ảnh và phong cách thơ của Tú Mỡ, từ đó hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và nghệ thuật của tác phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ xung đột văn hóa trong thơ nôm trào phúng nguyễn khuyến, nơi bàn về những xung đột văn hóa trong thơ ca, hoặc tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ ussh tiếng cười trong thơ tú mỡ, tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về tiếng cười trong thơ Tú Mỡ. Những liên kết này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn phong phú và đa dạng hơn về văn học Việt Nam.