phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai gồm 3 chương: Chương : Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện để tài Chương 2: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ cảm hứng, sáng tạo hình tượng nhân vậ “Chương 3: Sự vận động trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện nghệ thuật thể hiện CHUONG 1 SỰ VẬN DONG TRONG TRUYEN NGAN CUA NHA VAN NHIN TU PHƯƠNG ĐIỆN ĐÈ TÀI ới nhận thức, năng lực và những trải nghiệm của „ mỗi nhà văn sẽ có sự. lựa chọn đề tải. Đề tải là một phương diện nội dung tác phẩm, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn của nhà văn. Đó là sự khái quát về phạm vi xã hội, lịch sit của đời sống được phân ánh trong tác phẩm.
Qua sự lựa chọn đề tải, nhà văn thể hiện xö khuynh hướng trong lập trường tư tưởng của mình. Không chỉ được khơi gợi từ cuộc sống hiện thựu, để còn được xác lập bởi cách nhìn, quan niệm nghệ thuật, cá tính, tài năng sắng tạo, phụ thuộc vào những yêu cầu của thời đại và hoàn cảnh sáng tác riêng của mỗi nhà văn. Từ vùng biên ải thời kì đấu tranh xây dựng đất nước. C6 thể nồi, cảnh sắc và con người các dân tộc miễn núi luôn là một đổi tượng, thấm mỹ hấp dẫn và kỳ (hú, có sức cuốn hút các văn nhân, thì ĩ.
Đã có rất nhiều nhà văn khai phá mảnh đất này như Lan Khai, Thể Lữ, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc. Ngoài ra, một số tác giả người dân tộc thiểu số như Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hỗng, Vi Thị Kim Bình, Y Điên.cũng đã có những đồng góp, nhất định trong việc giữ gìn mạch ngầm văn chương ấy để nó ngày càng phát triển sâu rong Vi thé, khi Ma Vin Khang “dén véi win din ỉ cuộc sống miễn núi phía Bắc Tổ quốc đã được miêu tả qua một cải nhìn én dinh trong những tác phẩm xuất sắc tạo nên thành tựu của văn xuôi kháng chiến chẳng Pháp. Canh tác trên một mảnh đắt đã có người cày xới, Ma Văn Kháng không dừng lại ở cái nhìn quen thuộc gồi gọn trong quan điểm giai cắp "[25, t. Trên nền ting và tiếp bước những nhà văn đi trước, ông đã tạo nên nét riêng của mình.
Trong bối cảnh sáng tạo mới, nhà văn luôn ý thức tìm tôi và ạo ra dấu ấn riêng bằng những tác phẩm đặc sắc. Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội, Ma Văn Kháng xung phong lên Tây Bắc trong không khí náo nức của tuổi trẻ. Ông góp công sức không nhỏ cho đồng bảo miễn núi trong giai đoạn cực khổ nhất khi trực tiếp tham gia, trải qua những đợt tiễu phí, đi làm thuê, xây dựng hợp tác xã, dạy học, làm thư kí, nhà báo, nhà văn. Hon hai mươi năm sinh sống và làm việc ở vùng miễn múi, nhà văn đã hỏa nhập với môi trường, gắn bó, làm việc hết mình và xem Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình, Khoảng thôi gian Ấy đã tạ cơ hội cho ông gần gũi và am hiểu về thiên nhiên, phong quán, lối sống, suy nghĩ và tỉnh cảm của con người nơi đây.
Người thanh niễn yêu quý mảnh đất này và xác định nó như máu thịt nên việc ông khỏi đầu nghiệp văn của mình với đề tải miễn núi là điều như một lề tự nhiên. Hon hai mươi năm gắn bó với mảnh đất Lão Cai, nha văn đã nhận ra hiện thực và con người ở vùng cao là chất liệu, là nguồn cảm hứng vô tận cho những đứa con tinh thin của mình (Giảng Tú, VỆ sĩ của quan châu, Ông lão gác vườn và con chó Phim, Người thợ bạc ở phố cũ, Mã Đại Câu, người quết chợ Mường Cang, Móng: tới gian, Thim Hoóng. Dường như, đề tài về miền núi dẫn được thể hiện đầy đủ và sâu sắc hơn khi Ma Văn Kháng có một thời gian dài sinh sống và làm việc tại mảnh. Trong hồi kỹ của mình, ông đã từng thổ lộ: “Ôi rảo Cai! Vũng đất biển cương của TỔ quốc, nơi tôi tự nguyện đến để dâng hiển mỗi vẻ, để lập nghiệp, tôi đã bắt đầu làm quen với nó và từ đây tôi đã bắt đầuyêu nó rỗi sẽ gẵn bỏ với nó.
Trong manh nha tối nhận ra, tôi có thể làm được một việc gì đồ có ích cho cuộc đời, ở mảnh đất này "44, tr20]. Cùng với nhiều nhà văn khác, ông đã không ngừng lao động nghệ thuật, hòa chung vào mạch nguồn của văn chương dân tộc, tạo nên một "bộ phận đẹp, để” của văn học viết về dân tộc và miễn núi, khiến cho dòng chảy này ngày một mạnh m hơn. Trong hồi kí “Năm thing nhọc nhẫn, năm thắng nhớ thương", Ma Văn Kháng khẳng định: “Những ác phẩm lá “đề tài từ cuộc của đẳng bảo các dân tộc miễn núi, một cấu thành quan trong trong toàn bộ sáng tác của tôi. Thi phan nào cũng ‘gidng nue Té Hoài, Nguyên Ngoc, Mac Phi, Trung Trung Dinh, Phượng Vĩ.
các nhà văn người Kinh khác, tôi đã sống ở vùng đắt này, đã hiểu biếi, đã yêu thương nó và khao khát được trả ơn bằng việc miễu tả lại. Đây phải chăng cũng là một nết độc đáo, một sự phốt ngẫu dep để trong văn học nước ta? Bởi vì theo tôi trước hết và cũng lÀ ing, từ trong ý thức và tư tương thắm mỹ, tôi không thấy có sự khu biệt, phân cách; đắt nước là một chỉnh th, tắt cả các dân tộc đầu chung một dòng chảy lịch sử; và đặc sắc của cái riêng chỉ làm phong phú thêm cải chung ma thôi! "T44, tr211-21] Giới nghiên cứu văn học cũng đánh giá cao về vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn xuôi miền núi: “Ma Văn Kháng là một hiện tượng văn chương lớn. Chúng tôi mạnh dạn khẳng định, mảng văn chương về miền núi và dân tộc, được khởi lên từ đầu những năm 1950 và đạt tới thành tựu những năm cuối thể kỉ XX, là một thành công lớn của vẫn hóa Việt Nam ta. Trong thành công đó, có sự đồng góp nỗ lực của tài năng Ma Văn Kháng "(Anh Chỉ).
Qua các tác phẩm của Ma Văn Kháng, độc giả nhận xa một vùng biên ải xưa và nay với hai mảng màu khác nhau: một xứ sở hoang sơ và dữ dội với “kình sắc của thời mới khai thiên"và một vùng đất yên bình, gắn với vẽ dep ngàn đời. Xứ sở hoang sơ và đi đội Khio sắt sơ bộ các truyện ngắn Ma Văn Kháng trong quá trình sáng tác, chúng. ta có thể nhận thấy, từ những ngày đầu, với cảm hứng sử thi, chàng trai trẻ đã có những khám phá bắt ngờ đầy thú vị trước vẻ hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng cũng như: sự hồn nhiên chân chất của người dân Tây Bắc. Ngay từ những trang viết đầu tay qua truyện ngắn Phố cụt ( 1961), Ma Văn Kháng đã phát họa một thị trấn nhỏ bé và heo hút với những con người chất phác, Từ đó, bằng khả năng quan sát và ÿ thức tìm tòi sáng tạo, nhà văn luônthể hiện những điều mới mẻ ở khả năng chiếm lĩnh hiện thực đề tải miễn núi.
“Nếu tinh theo thai gian (hủ cỏ thể nồi, đồng truyện ngẫn vé dé tải dân tộc và miễn múi của Ma Văn Kháng được bắt đầu từ năm 1968, với truyện ngắn Xa "Phủ đạt giả Nhì (không có giải nhất) ở cuộc thì truyện ngắn do báo Văn nghệ tổ chức. Từ đó, dồng mạch này được liên tục khơi nguồn và cho tới tận hôm nay, những gì dng đã thấy, đã cảm nhận, đã suy ngẫm (.) vẫn còn là những ấn tượng giàu chắt mỹ cảm được trở đi trở lại nhiễu lằn trong cảm hứng sáng tạo của ông”. {44, Lời giới thiệu] Vi thé, qua cée giai đoạn cụ thể, một phần vì do sự lựa chọn của nhà văn trước cuộc sống, một phần chịu sự ảnh hưởng trước sự vận động nội tại của nền văn học Vigt Nam, đề tài này được nha van phan ảnh. đa dang, phong phú và sâu sắc trong các tác phẩm của mình.
Tiếp cận những sáng tác của Ma Văn Kháng, người đọc nhận thấy ông không viết n núi phía Bắc nối chung mà hướng mọi sự chú ý về vũng biên ải với không gian mang tính chất sử thỉ. Trong các truyện ngắn về miền núi, nhà văn đã phác họa một xứ sở hoang sơ và dữ dội, "lúc não cũng có hình sắc của thời mới khai thiên. Đắt hoang hóa chỉ cho phép tổn tại dưới ảnh mặt trời những thể lực hùng mạnh, những thi: linh gian ác, những tù trưởng thông thạo chiến chỉnh và kéo theo nỗ bọn theo dém ăn tan, những bản năng bản khai kinh thiên động địa "với "những cuộc chỉnh chiến, sắt phạt tần hại giữa các bảy đàn, phe cánh 33, tr31]. Xứ sở ấy luôn tồn tại những hiểm nguy vây bọc xung quanh luôn rình rập con người trong “một khoảng trắng giữa rừng giả.
Vừa hạ Kiệu, bắn người cảm nhận được ngay vẽ hoang lạnh đến rön da thịt của khung cảnh. Bụi râm và vòm cây chen kín, xung quanh họ tối mở. Đã thể lại sương trắng mù mù vậy bọc. Và từ trong xa xăm, vẳng lên tiếng róc ách của một con suối hoang, như một ảm ảnh triển miễn dai đẳng "133, tr260].
Trong không gianni img luôn hiện hữu cảnh thú đã ăn thị ngời. Đó là những con vật như hỗ, lợn lôi, chó sói lửa. đe dọa đến cuộc. ống con người, chúng tấn công ăn thịt gia súc và con người bắt cứ lúc nào: “Một con hổ đói đã theo đoàn người suốt chặng đường hôm qua giờ nó đang chờ ông lính ở bở suối nọ.
Nghe tiếng người lính thết rụng rồi (,. Và họ cũng rết ram lên”. Không ai có thể lường trước được những rủi ro mà thiên nhiên mang lại cho cuộc sống con người, mang sống luôn bị đe dọa, những cái chết dường như đến thật bắt ngờ: “Tình hổ còn nhan nhân ở lẫn với người. Người ta bio con hỗ gây ra ai hoa này là con thủ dữ còn lại duy nhất ở vùng rừng này (.
) Nó giả lắm rồi. Công trâu, bắt lợn là chuyện bình thường với nó. Nó giả làm người. 9 Nó còn biết lội xuống suối bắt cá.
Năm nào nó cũng v ngudi, Ranh m lọc lõi, ác độc. 164 mức nó thành tình "133, 262]. Đề sống và tồn tại trước những de doa luén an đật đó, con người phải luôn học cách chồng choi lại chúng. Miễn núi Tây Bắc luôn hiện ra không gian hoang vắng, ghế rợn, gợi một nổi sợ "hãi bởi cái hoang sơ, u ám.