phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Mục lục Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về VHUX trong công việc của cán bộ, công chức tại xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Chƣơng 2. Thực trạng VHUX trong công việc của cán bộ, công chức tại xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Chƣơng 3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến VHUX trong công việc của cán bộ, công chức tại xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG CÔNG VIỆC CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Các khái niệm công cụ 1. Văn hoá Hiện nay các nhà nghiên cứu về văn hóa, các tổ chức và các quốc gia trên thế giới đã công bố hàng trăm các định nghĩa về văn hóa. Thuật ngữ “văn hóa” hiện có nhiều quan niệm khác nhau do cách tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển tiếng thông dụng thì Văn hóa là “Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong quá trình lịch sử” [14, tr 1247]. Theo cách tiếp cận này thì “Văn hóa” đƣợc hiểu là những sản phẩm phục vụ đời sống của con ngƣời cả về vật chất và phi vật chất, có sức sống lâu dài với thời gian. Quan niệm của Hồ Chủ tịch về văn hóa cũng khá rộng, trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [14, tr431]. Nói theo nghĩa rộng, văn hóa là tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con ngƣời đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình, là cái biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định, là dòng chảy liên tục kết nối quá khứ, hiện tại và tƣơng lai. Tại Hội nghị của UNESCO tháng 7 năm 1982, với 500 nhà nghiên cứu về văn hóa đã thống nhất định nghĩa văn hóa với ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này: “Văn hóa là một phức thể - tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, trí thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một gia đình, cộng đồng, xóm làng, vùng miền, quốc gia, dân tộc… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng, những di sản văn hóa hữu thể và những di sản văn hóa vô hình” [34, tr. 15 Theo nghĩa hẹp thì văn hóa đƣợc quan niệm quá trình con ngƣời sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của đời sống con ngƣời về vật chất và tinh thần.
Tiêu biểu tác giả Trần Ngọc Thêm đƣa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [33, tr10]. Định nghĩa này đã chỉ ra đƣợc một cách cụ thể hơn về các giá trị văn hóa do con ngƣời sáng tạo ra đó là các giá trị về vật chất và tinh thần nhƣng quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa là quá trình con ngƣời tƣơng tác với nhau và tƣơng tác với môi trƣờng tự nhiên và xã hội, tạo nên các giá trị văn hóa. Chính quan niệm này của tác giả về văn hóa qua đó đã khái quát lên đặc trƣng cơ bản của văn hóa đó tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Theo tác giả Phạm Xuân Nam cho rằng: “Yếu tố hàng đầu của văn hóa là sự hiểu biết, bao gồm trí thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và mỗi thành viên trong cộng đồng ấy.
Nhưng chỉ riêng sự hiểu biết thôi chưa làm nên văn hóa. Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó làm nền và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, hành vi…) của mỗi cá nhân và cả cộng đồng hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ với mình, với người, với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên…” [19, tr. Theo tác giả Lê Tiêu La, dƣới góc nhìn của xã hội học thì văn hóa đƣợc xã hội học quan tâm trên ba bình diện chính: Văn hóa đƣợc xem nhƣ là hệ thống những giá trị, chuẩn mực, biểu trƣng và có ý nghĩa xã hội. Văn hóa nhƣ là cơ sở của xã hội hóa cá nhân, tức là khách thể của sự lĩnh hội con ngƣời trong quá trình hoạt động của mình.
Văn hóa là những gì đƣợc con ngƣời tạo ra, lƣu giữ bảo tồn và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phần văn hóa vật chất và tinh thần do thế hệ trƣớc tạo lập đƣợc truyền cho thế hệ sau và đƣợc họ tiếp nhận và lĩnh hội, kế thừa và phát triển gọi là di sản văn hóa. Bản chất của văn hóa là quá trình chuẩn mực hóa nhu cầu con ngƣời, từ những hình ảnh, biểu tƣợng, ngôn ngữ… để xây dựng nên mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau: cha con, vợ chồng, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp… Thông qua sự 16 giao tiếp và đặc biệt là ứng xử, bản chất con ngƣời đƣợc hình thành rõ nét và đây cũng chính là cơ sở, là cái nôi để hình thành nên văn hóa [13; tr43]. Trong luận văn này, văn hóa đƣợc xem là bao gồm những giá trị, chuẩn mực, biểu trƣng, tri thức và ngôn ngữ của cán bộ, công chức; Hệ thống giá trị cộng đồng chi phối cách ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng tạo nên tổng thể giá trị và biểu hiện bản sắc của cộng đồng.
Ứng xử Từ lâu vấn đề ứng xử trong mối quan hệ xã hội giữa con ngƣời với tự nhiên, con ngƣời với xã hội, con ngƣời với gia đình, con ngƣời với chính mình, đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu. Dƣới góc độ xã hội học, ứng xử đƣợc dùng “để chỉ các hành động và nói nhƣ thế nào đó của một vai trò này đối diện với một vai trò khác (tức một cặp vai trò nhƣ vợ/chồng, cha con, cấp trên/cấp dƣới…) và đó là hành động hoặc gọi là phản ứng, theo một cách tƣơng đối. Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội khác nhau mà ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên [4, tr123]. Văn hóa ứng xử Văn hóa ứng xử là một trong những dạng thức của văn hóa.
Thuật ngữ văn hóa ứng xử tại Việt Nam đƣợc đề cập đến trong quá trình xây dựng con ngƣời mới, đời sống văn hóa mới. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử nhƣng đã xác định nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng, nội dung của văn hóa ứng xử là thái độ của cộng đồng với hai loại môi trƣờng bao gồm môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội. Với mỗi loại môi trƣờng đều có cách xử thế phù hợp là: tận dụng và ứng phó môi trƣờng.
Các cộng đồng chủ thể trong văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trƣờng: môi trƣờng tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trƣờng xã hội (các quốc gia láng giềng…) Với loại môi trƣờng đểu có cách thức xử thế phù hợp là: tận dụng môi trƣờng (ảnh hƣởng tích cực) và ứng phó với môi trƣờng (ảnh hƣởng tiêu cực) [33, tr16-17]. Theo Phạm Thế Hùng, văn hóa ứng xử là: “Thế ứng xử, là sự thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong công 17 việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ vi mô (gia đình) đến vĩ mô (nhân gian) [7, tr17]. Theo Đỗ Long trong cuốn: “Tâm lý học với văn hóa ứng xử” thì cho rằng “Văn hóa ứng xử là hệ thống thái độ hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên căn cứ pháp lý và đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng, của xã hội” [17, tr17]. Văn hóa ứng xử còn đƣợc dùng chỉ thái độ, hành vi của con ngƣời trong giao tiếp đời sống với những ngƣời xung quanh.
Văn hóa ứng xử bao gồm cả cách ứng xử với thiên nhiên, với môi trƣờng nhân văn xung quanh đời sống con ngƣời. Văn hóa ứng xử là phƣơng thức giao tiếp và tự bảo tồn của con ngƣời với mọi vật xung quanh đời sống con ngƣời. Văn hóa ứng xử luôn có tính lịch sử cụ thể, tức là khi có những điều kiện kinh tế - xã hội của thời đại thay đổi thì nó cũng có những điều chỉnh cần thiết cho thích hợp. VHUX đƣợc thể hiện trong nhiều mối quan hệ khác nhau trong đời sống xã hội nhƣ: quan hệ cấp trên cấp dƣới, quan hệ giữa đồng nghiệp, quan hệ giữa cán bộ, công chức với ngƣời dân, quan hệ thầy trò…Trong đề tài này tác giả đề tài đề cập đến VHUX của các cán bộ, công chức trong công việc tại cơ quan công sở đó là mối quan hệ giữa lãnh đạo với cấp dƣới, các đồng nghiệp với nhau và ngƣợc lại, mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với ngƣời dân khi tham gia các thủ tục hành chính.
Đây là mối quan hệ phổ biến trong cơ quan, nơi làm việc đòi hỏi các cá nhân phải ứng xử phù hợp với những chuẩn mực định sẵn của cơ quan để đảm bảo không khí làm việc ổn định, tích cực hƣớng đến mục tiêu là đem lại hiệu quả trong công việc và tạo ra thành quả của mỗi cá nhân. Trên thực tế, một tổ chức hoặc một cộng đồng nào cũng phải có quy định, nguyên tắc riêng ảnh hƣởng đến cách ứng xử hằng ngày của từng ngƣời.