Chương 1. Cơ sởlý luận về đời sống văn hóa và khái quát về sinh viên trường Cao đẳng Thương mại và Du h - Chương 2. Thực trạng đời sống văn hóa của sinh viên trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch - Chương 3. Những nhân tố tác động đến đời sống văn hóa của sinh viên trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch và những vấn đề đặt ra hiện nay.
"1 Chương ï CO SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SÓNG VĂN HÓA VÀ KHÁI QUAT VE SINH VIÊN TRƯỜNG CAO DANG THUONG MAI VA DU LICH 1. Cơ sở lý luận về đời sống văn hóa 1. Khái niệm đời sống văn hóa Đề nghiên cứu đời sống văn hóa nói chung và đời sống văn hóa của sinh viên nói riêng, trước hết phải làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan đến “đời sống văn hóa ” 1. Khái niệm văn hóa Nói đến văn hóa, trên thế giới đã từng ghi nhận rất nhiều quan niệm, khái niệm và định nghĩa khác nhau.
Tiêu biêu như một số khái niệm dưới đây: Trong Tuyên ngôn của “Hội nghị quốc tế vẻ chính sách văn hoá" do UNESCO 16 chite vào tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô, văn hoá được xác định: là tổng thể các dấu hiệu tình thân, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc biệt, xác định tính cách của một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó bao hàm không chỉ: nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lỗi sống, các quyên cơ bản của sự tổn tại nhân sinh, những hệ thống giá trị, các truyền thống và các quan niệm. Năm 1988, UNESCO phát động 7hập ký thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), ông Federico Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) đã đưa ra khái niệm: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các. cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ hoạt ông sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thông giá 0 tác truyền thống, thị hiểu - đặc trưng riêng của mỗi dân tộc” [40, tr. “Theo cách hiểu này, văn hoá là tổng thẻ sống động các hoạt động sáng tạo của con người với tư cách là các cá nhân và cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, trải qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên 12 một hệ thống các giá trị, các truyền thống, thị hiểu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng cộng đồng tự khẳng định bản sắc riêng của mình. Đặc trưng của văn hoá mang tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống và tính giá trị. Quan điểm trên được học viên sử dụng trong bản luận văn nay.
Khái niệm “Đời sống văn hóa ” Có thể thấy rằng khái niệm “đời sống văn hóa ” liên quan chặt chẽ và là biểu hiện bản chất của “văn hoá” trong quá trình vận động biến đổi của nó, Trong cuốn sách Máy vấn để lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta, tác giả Hoàng Vinh cho rằng: Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội. Đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con người, nhằm đáp. ứng nhu cầu của con người. Trong đó các hoạt động văn hoá đáp.
ứng nhu cầu tỉnh thần, làm cho con người tồn tại với tư cách là một sinh thể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn hoá. Xã hội càng tiến hoá, nhu cầu văn hoá và sự đáp ứng nhu cầu đó cảng cao, thể hiện trình độ phát triển Người. Các hoạt động nhằm. đáp ứng nhu cầu tỉnh thần của con người, đó chính là hoạt động văn hoá.162-163] Từ đó có thể hiểu rằng: Đời sống văn hoá chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hoá trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hoá và sự giao lưu văn hoá, nhằm thoả mãn nhu câu tỉnh thân của cá nhân và cộng đông người.
Về một phương diện nào đó, đởi sống văn hoá cũng chính là môi trường hoạt động sống của con người. Môi trường văn hoá là nơi diễn ra mọi hoạt động văn hoá, có sự hoà trộn giữa văn hoá cá nhân với văn hoá công đồng, là tổng thể của những văn hoá vật thể và phi vật thể, nhân cách văn hoá, có sự tác động lẫn nhau, trực 13 ép hinh thanh pham giá và lối sống của con người và xã hội. Văn hoá chính là đời sống. Ban đầu, nó là cái phân biệt giữa con người và động vật.
VỀ sau, nó lại là cái phân biệt giữa cá. nhân con người và cộng đồng. Ý nghĩa của văn hoá chuyển dịch dần từ mỗi quan hệ giữa con người với tự nhiên sang mỗi quan hệ giữa con người với xã hội. ‘Theo một lát cắt dọc tưởng tượng sẽ chia đời sống con người làm hai mảng: đời sống vật chất và đời sống tỉnh thần.
Dưới góc nhìn trừu tượng hoá, đời sống vật chất bao gồm toàn bộ hoạt động thoả mãn các nhu cầu vật chất, làm nên sự tồn tại sinh vật của con người. Tương tự, đời sống tỉnh thần hình thành trên cơ sở những hoạt động thoả mãn nhu cầu tinh thần đề nâng cái tồn tại sinh. vật ấy lên tầm xã hội. Xuyên qua việc thoả mãn những nhu câu vật chất và tỉnh thần, con người còn nhằm thoả mãn một nhu cầu khác hướng tới các giá trị nhân hoá: cái chân trong nhận thức, cái thiện trong hành động và cái mỹ trong cảm xúc.
Đây chính là đời sống văn hoá. Nó như một lát cắt ngang của đời sống con người, xuyên thấm trong tất cả các lĩnh vực của đời sống vật chất và tỉnh thân, như sự thăng hoa của đời sống vật chất va tinh than. Có thể nhận thấy thực ra giữa đời sống văn hoá và môi trường văn hoá. cũng không hoàn toàn đồng nhất.
Sự khác nhau được thể hiện: môi trường văn hoá là môi trường chứa đựng những giá trị văn hoá và diễn ra các quan hệ văn hoá, các hoạt động văn hoá của con người. Còn đời sống văn hoá là "tổng, thể sống động các hoạt động sáng tạo" của con người nhằm thoả mãn các nhu cầu văn hoá, hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ, hướng con người và xã hội phát triển theo tỉnh thần nhân văn - nhân bản. Nhu vậy, đời sống văn hoá thực chất là mặt tự giác của đời sống con người. Nội dung của mặt tự giác ấy là các giá trị văn hoá được vận động, bộc lộ trong các hoạt động sống, các quan hệ nhằm tạo ra sự hải hoà giữa cá nhân 14 và công đồng, giữa xã hội và tự nhiên.
Dễ nhận thấy là khi mặt tự giác ấy mắt đi, đời sống của con người sẽ chỉ đơn thuần là một chuỗi hoạt động bản năng. 'Về một phương diện khác, cũng có thể hiểu đời sống văn hoá chính là tổng thể các hoạt động văn hoá. Trong Hội thảo khoa học “Những vấn đê lý luận và thực tiễn về đời sống văn hóa, môi trường văn hóa " của trường Đại học Văn hóa Hà Nội (tháng 4 năm 2015) có ý kiến cho rằng chỉ nên giới hạn đời sống văn hóa vào các hoạt động văn hóa tỉnh thần (sáng tạo, biểu hiện, thưởng thức, truyền bá, phổ biến, trao đổi các sản phẩm tinh thần trong thời gian rỗi của cá nhân và cộng đồng). Tuy ý kiến này chưa phải là quan niệm được nhiều người tán thành song học viên thấy phù hợp và sẽ vận dụng trong, khi khắc họa đời sống văn hóa của sinh viên trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch -Bộ Công Thương.
Cấu trúc của đời sống văn hóa Trong Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng hệ cử. nhân chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh “cấu trúc của đời sống văn hoá được xác định bao gồm: con người văn hoá, hoạt động văn hoá và sản phẩm văn hoá” [24, tr. Nhóm tác giả Trường Cao đăng Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh cho rằng “đời sống văn hoá là tổng thể những yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hoá bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình. thành lối sống và nếp sống con người ở đó” [37, tr.
Thể thống nhất này gồm. 4 yếu tố: Những yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể hiện diện ở mỗi cộng đồng; những yếu tố cảnh quan văn hoá (tự nhiên và nhân tạo); những yết 6 văn hoá cá nhân (học vấn, sở thích, sinh hoạt và xử lý thời gian, nếp sống.); những yếu tổ văn hoá của các vi môi trường trong những cộng đồng (gia đình, tập thể nhỏ về ao động, học tập, quân ngũ. 15 “Tổng hợp các ý kiến trên, các tác giả đã xác định cầu trúc của đời sống văn hoá bao các yếu tố cơ bản: con người văn hoá, hệ thống các giá trị văn hoá, các quan hệ văn hoá, các hoạt động văn hoá, hệ thống các thiết chế và cánh quan văn hoá. Giữa các yêu tố đó có sự tác động lẫn nhau, phản ánh toàn bộ đời sống của con người, đáp ứng nhu cầu, tác động đến sự phát triển của con người và xã hội.
Phân tích cụ thể từng yếu tố, ta nhận thấy: 1. Con người văn hoá 'Con người, với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động xã hội, là yếu tố khởi đầu trong cầu trúc của đời sóng văn hoá. Con người sáng tạo ra văn hoá như một phương thức tồn tại đặc thù. Khi các giá trị văn hoá đã được xác lập, con người tái tạo và sử dụng chúng như một phương tiện để thoả mãn những nhu cầu vật chất và tỉnh thần của mình, khi cho đời sống của con người không phải là những hoạt động bản năng sinh tồn.
Theo “Đưởng đấn” văn hoá mà đời sống của động vật người trở thành đời sống văn hoá. Chỉ có con người mới có đời sống văn hoá, con người kiến tạo và kiến trúc nên đời sống văn hoá. Mặt khác, con người cũng là sản phẩm của đời sống văn hoá. Con người tham gia vào đời sống văn hoá với vai trò chủ thể nhưng đồng thời cũng là đối tượng.
Chính trong đời sống, những năng lực văn hoá của nó được nuôi dưỡng và bộc lộ. Có đời sống văn hoá của cá nhân, của những nhóm người và của cả xã hội, tắt cả tương. tác nhau trong sự vận hành của hệ giá trị văn hoá.