mở đầu một nhà nước Vạn Xuân độc lập. không lâu, đến năm 545 nhà Lương cử Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem. quân xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ. Thế giặc mạnh, quân của Lý Bí thua trận.
Lý Nam Đế phải bỏ kinh thành chạy về phía Tây Nam, còn Triệu Quang. Phục, chỉ huy một cánh quân, chuyên về phía Đông. động Khuất Lão, giao quyền chỉ đạo kháng chiến cho Triệu Quang Phục. Việc Triệu Quang Phục được Lý Nam Đề giao binh quyền đã khẳng định vị trí của người tướng tài trong lòng của vua nước Vạn Xuân.
Bởi vì bên cạnh Lý Nam Đề còn có người thân trong họ tộc của vua, nhưng ông đã không lựa chọn họ, thay vào đó, ông lựa chọn một người không liên quan gì đến hoàng tộc, mà chỉ là một vị tướng bên cạnh mình. Điều đó cho thấy bản thân Triệu Quang Phục đã hội tụ được những tố chất của một con người xuất chúng, có khả năng lãnh đạo toàn quân, toàn dân đứng lên đầu tranhchồng kẻ thủ xâm lược. Lúc này với thế lực còn yếu, Triệu Quang Phục cầm quân lui về lập căn cứ ở Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) chờ thời cơ chống giặc. "Dạ Trạch (Bãi Màn Trò, còn gọi là Màn Trù, thuộc Khoái Châu) là một vùng đầm lầy rất rộng, cây có um tùm, ở giữa có bãi đất i.
Đây là vùng đất có địa thế êm trở, Triệu Quang Phục đã lựa chọn đằm Dạ Trạch làm nơi để nuôi quân, gây dựng lại lực lượng, chờ thời cơ đánh giặc. Hồng Lam, Hồng Lĩnh đã chép: “Dạ rạch (bãi Màn Trò, Khoái Châu, Hải Hưng) là một vùng đầm lây ven sông Hồng, rộng mênh mông. Day chính là căn cứ mà Triệu Quang Phục lựa chọn để đánh lâu dài với quân Lương vì phù hợp với cách dùng binh của ông, trong điều kiện sức ta mỏng còn sức giặc thì mạnh. Triệu Quang Phục là một tướng tài, đã biết dựa vào thế hiểm trở của đầm Dạ Trạch mà thực thi chiến lược: vừa làm cho.
giấc bị tiêu hao sinh lực, vừa cướp lương thực của giặc để nuôi quân, xây dựng căn cứ lớn mạnh chờ ngày tông tắn công. Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi chép lai: “Da Trach Ia cdi chim, chu vì không biết bao dặm mà kẻ, có cây rậm rạp, giữa chằm có bãi ở được, bắn mặt bùn lây. Triệu Quang Phục đem hơn một vạn người vào giữ chằm ấy để đánh giặc lâu dài. Đinh Xuân Lâm - Trương Hữu 'Quýnh cũng miêu tả: “Đảm Da Trạch là một vùng đất lằy thuộc huyện Khoái.
Châu (Hưng Yên), xung quanh lau sậy um từ, đứng ngoài không nhìn rõ bên trong. Giữa đầm là một gò lôi có thể chứa được vài vạn quân và có thể trằng trọt được. Đầm Dạ Trạch được miêu tả tuy có đôi nét khác nhau, nhưng sự ghi chép ấy đã khẳng định được rõ vị trí của đầm Dạ Trạch và sự hiện diện của Triệu Quang Phục với tỉnh than của một người anh hùng đứng lên cùng quân dân chống lại giặc Lương. Việc ông được nhân dân tôn là Dạ Trạch Vương cũng được khẳng định rắt rõ qua quá trình bám trụ tại đầm Dạ Trạch để nuôi quân, gây dựng lực lượng mong ngày giải phóng dân.
tộc thoát khỏi gặc Lương xâm lược. ‘Nam 546, khi được vua Lý Nam Đề trao cho toàn bộ binh quyền, Triệu Quang Phục đứng trước hai khó khăn rất lớn. Một là lực lượng bị chia nhỏ hai là những cuộc tắn công quyết liệt và liên tiếp của quân nhà Lương do Tran Bá Tiên chỉ huy. Triệu Quang Phục nhận thấy thế giặc quá mạnh, khó có thê đánh nôi.
Xét thấy không thể tiếp tục công khai nghênh chiến với kẻ thù như trước nữa, Triệu Quang Phục đã chủ động lui binh về khu vực đầm Dạ Trạch, 14 cho xây dựng đầm Dạ Trạch thành khu căn cứ mới, triệt để tận dụng những. ưu thế riêng của địa hình vùng đầm lầy để khôn khéo tô chức hàng loạt trận đánh bất ngờ và hiểm hóc. Cách đánh giặc của Triệu Quang Phục thời ấy, ngày nay được gọi là đánh du kích, nhằm sơ hở của địch mà tắn công và tắn công những lúc địch không ngờ tới. Ông cho quân do thám bám sát theo hành tung của giặc, lấy nhỏ đánh lớn, rất hữu dụng với tình thế lúc bấy giờ.
Nơi đây là vùng đất rộng mênh mông, lau sậy um tim, nước quanh gò. lầy mà cạn chỉ có thể dùng thuyền độc mộc chống sào lướt nhẹ trên đám cỏ nước dọc theo mấy con lạch nhỏ mới tới được đại bản doanh của nghĩa quân. Giữa đầm là một gò đất nồi có thể chứa được vài vạn quân và còn trồng trọt được, Triệu Quang Phục đã chọn gò đất nổi làm đại bản doanh cho nghĩa quân của ông. Quân của ông đóng trên gò đất này, đan nhiều thuyền thúng, thường xuyên liên lạc với nhân dân quanh đầm vừa kiếm lương thực vừa tổ.
chức chống giặc. Gò đất nỗi giữa đầm còn được gọi là bãi Tự Nhiên. Trong sach Linh Nam chích quái có Nhất Dạ Trach truyện, kê về nơi Chừ Đồng Tử và Công. Chúa Tiên Dung gặp nhau, thành vợ thành chồng, sau đó cùng với thành quách, dinh thự.bay lên trời.
Chỗ đắt cũ sụt xuống thành cái đầm lớn, dân. cho là linh thiêng nên thường xuyên cúng tế, gọi đầm ấy là Nhất Dạ Trạch và bai dat ở giữa đầm là bãi Tự Nhiên hay bãi Màn Trù. Nhất Dạ Trạch truyện được Lĩnh Nam Chích Quái chép đượm màu li kỳ và huyền ảo, nhưng đầm Dạ Trạch và bãi Tự Nhiên ~ noi in dấu những bước chân quả cảm của nghĩa quân Triệu Quang Phục thì lại là một sự thật oai hùng. Miễn đất có vinh hạnh được chứng kiến khí phách của những cuộc đời kiên cường, hiên ngang bất khuất - những người chẳng có chút gì cho riêng mình đã hóa thân thành những thiên huyền thoại diệu ki của lich sử.
Chủ trương của Triệu Quang 15 Phục chuyển từ cố thủ trong thành trì ở đồng bằng hoặc trung du sang bám trụ. ở vùng đầm lầy là nét mới trong tư duy quân sự của toàn bộ quá trình đấu. tranh vũ trang chống ách đô hộ nhà Lương. Ông đã nhanh chóng chuyển từ thụ động chờ đón đánh địch sang chủ động tổ chức tắn công bằng nhiều trận đánh có quy mô nhỏ nhưng rất lợi hại.
Đây là sự đổi thay quan trọng nhất trong nghệ thuật chỉ huy quân sự đương thời. Õ một chừng mực nhất định nào. đó, chúng ta cũng có thể nói rằng Triệu Quang Phục là một trong những đại diện thuộc hàng cổ nhất của lịch sử chiến tranh du kích Việt Nam. Khi đem quân về Dạ Trạch, Triệu Quang Phục đã tính đến việc tự túc lương thực để chiến đấu lâu dài.
Ông đã chia quân ra làm nhiều nhóm: nhóm chặt cây, nhóm đi săn vịt trời, chim để nuôi quân. Lương thực thiếu thốn, Triệu Quang Phục phải cùng quân dân ăn củ súng, khoai dại để dành thóc gieo mạ. Khi doanh trại đã xây dựng xong những phần cơ bản thì cũng là lúc tướng giặc Trần Bá Tiên biết được nơi đồn trú của quân ta. Bá Tiên đem quân rằm rộ đến bủa vây.
Tướng giặc nhìn đầm rộng toàn lau sậy, đắc ý nói với lính của mình: *Số phận quân Dạ Trạch đã được định liệu. Một vạn miệng ăn chen chúc trong đầm thì sẽ chết vì đói. Ta chỉ cần vây chặt mà không cần đánh cũng thắng”. Trần Bá Tiên chia quân lập một hệ thống đồn binh vây bọc.
kín khu đầm, cắt đứt liên lạc và tiếp tế giữa quân với dân chúng. Nhưng, bên trong vòng vây, Triệu Quang Phục một mặt cho quân do thám hành động của 'Bá Tiên, mặt khác cho đắp bờ, khoanh bãi, làm nền ruộng, gieo mạ để trồng. Ông còn nhắm trước khu đất cao ở gần sông Cái (sông Hồng) để sửa soạn làm mùa sau. Tắt cả những công việc này đều được tiến hành trong điều kiện thiếu thốn về nông cụ.
Triệu Quang Phục đã cùng quân lính xuống ruộng, cùng cằm cày để làm ruộng. Sau những ngày thiếu thồn đó, quân dân ta chẳng. những có đủ lương thực ăn mà còn có thóc để dành phòng cho chiến tranh lâu đài. Theo lệnh của Triệu Quang Phục, “lúa quý như mạng người” nên mọi 16 người đều ra sức trồng trọt lúa gạo và thực phẩm.
Lập căn cứ kháng chiến ở. đồng bằng, đó là kế sách dùng binh hết sức mưu lược và sáng suốt của Triệu Quang phục. Đưa quân xuống đồng bằng, Triệu Quang Phục không áp dụng. phương thức tác chiến phòng ngự, có thủ hay tập trung lực lượng quyết chiến với địch mà nói theo ngôn ngữ quân sự hiện đại là lấy đánh lâu dai và đánh.
tiêu hao làm phương thức tác chiến chủ yếu. Nhờ sự chuyển hướng chiến lược sáng suốt đó mà cục diện chiến tranh thay đổi ngày cảng có lợi cho ta, bắt lợi cho địch. Triệu Quang Phục có lẽ là người đầu tiên sử dụng chiến thuật du kích, chiến đấu một cách hiệu quả với quân chính quy của nhà Lương. Trần Bá Tiên hoàn toàn bất lực trước chiến thuật này của Triệu Quang Phục.
Đã nhiều lần quân Lương cố sức đánh vào. vùng Dạ Trạch, nhằm phá vỡ đầu não kháng chiến, nhưng âm mưu đó không thực hiện được. Có lần Trần Bá Tiên đã cho quân theo hút quân ta đề tiến sâu vào vùng cắm địa, song đều thất bại, bởi ngoài quân ta ra, không có kẻ ngoại lai nào có thể biết được đường ngang lối tắt của đầm Dạ Trạch. Bọn thám tử.
của quân Lương đã nhiều phen làm mồi cho lũ rắn độc khi chúng rơi ngã xuống đầm. Quân của Triệu Quang Phục giữ vững căn cứ Dạ Trạch, liên tục tập kích các doanh trại và các cuộc hành binh của địch. Năm 54§, sau khi nghe tin Lý Nam Đề đã lâm bệnh mà qua đời tại động Khuất Lão, Triệu Quang Phục mới lên ngôi Vương, xưng là Triệu Việt 'Vương (vua của nước Việt, người họ Triệu). Việc lên ngôi này trước hết và chủ yếu là để tạo ra ngọn cờ để tập hợp lực lượng đánh đuổi quân xâm lăng.
Nhìn từ góc độ đó, điều đáng kính và thật dễ nhận ra là tình thần quả cảm và ý thức trách nhiệm rất cao của Triệu Quang Phục trước vận mệnh đang bị de dọa rất nghiêm trọng của nhà nước Vạn Xuân. Cũng nhìn từ góc độ đó, ấn tượng mạnh mẽ của hậu thế chính là thái độ rất khiêm nhường của Triệu Quang Phục.