Vận dụng chương trình khung trong biên soạn chương trình đào tạo nghề may công nghiệp - Luận văn ThS. Phạm Thị Cúc

Nghiên cứu vận dụng chương trình khung trong biên soạn chương trình đào tạo nghề may công nghiệp tại Trung tâm dạy nghề huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Phân

Chuyên ngành

Giáo dục học

Tác giả

Phạm Thị Cúc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

195
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vận dụng chương trình khung trong đào tạo nghề may công nghiệp

Chương trình khung là văn bản quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng toàn quốc do Tổng cục Dạy nghề ban hành. Chương trình này quy định cơ cấu, nội dung, số lượng mô đun, tỷ lệ thời gian lý thuyết và thực hành cho từng nghề. Vận dụng chương trình khung nghĩa là đưa chuẩn quốc gia áp dụng vào thực tiễn đào tạo tại địa phương. Quá trình này đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo phù hợp đặc điểm người học và nhu cầu lao động từng vùng. Tại huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau, nghề may công nghiệp là ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế. Trung tâm dạy nghề cần biên soạn chương trình đào tạo riêng dựa trên khung chuẩn. Mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Đề tài nghiên cứu vận dụng chương trình khung đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và hiệu quả đào tạo.

1.1. Khái niệm chương trình khung và vận dụng chương trình khung

Chương trình khung theo Điều 5 Luật Dạy nghề là văn bản quy định chuẩn kiến thức kỹ năng nghề trên toàn quốc. Chương trình này xác định cơ cấu nội dung, số lượng mô đun, thời lượng học tập, tỷ lệ lý thuyết và thực hành. Vận dụng chương trình khung là quá trình đem tri thức lý luận áp dụng vào thực tiễn đào tạo. Người biên soạn phải hiểu rõ yêu cầu chuẩn rồi điều chỉnh cho phù hợp địa phương. Quá trình này đảm bảo tính thống nhất quốc gia đồng thời đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng vùng miền. Chương trình khung đóng vai trò nền tảng quan trọng trong đào tạo nghề.

1.2. Điều kiện áp dụng tại Trung tâm Dạy nghề huyện Trần Văn Thời

Trung tâm Dạy nghề huyện Trần Văn Thời nằm ở vùng nông thôn tỉnh Cà Mau. Địa phương có nhu cầu lớn về đào tạo nghề may công nghiệp cho lao động nông thôn. Trung tâm cần đáp ứng yêu cầu đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ về dạy nghề. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị máy may còn nhiều hạn chế. Đội ngũ giáo viên dạy nghề may cần được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Người học chủ yếu là lao động nông thôn, trình độ văn hóa không đồng đều. Việc vận dụng chương trình khung cần tính toán kỹ các yếu tố thực tế này.

II. Phân tích thực trạng đào tạo nghề may công nghiệp tại Trần Văn Thời

Thực trạng đào tạo nghề may công nghiệp tại huyện Trần Văn Thời bộc lộ nhiều hạn chế. Nhu cầu nhân lực ngành may tăng cao do sự phát triển của các khu công nghiệp. Tuy nhiên chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất. Chương trình đào tạo hiện tại nặng về lý thuyết, thiếu thực hành thực tiễn. Cơ sở vật chất trang thiết bị máy móc còn thiếu thốn, lạc hậu. Đội ngũ giáo viên dạy nghề may thiếu kinh nghiệm thực tế tại doanh nghiệp. Phương pháp giảng dạy chưa đổi mới, thiếu tính tương tác và sáng tạo. Sự liên kết giữa trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp may còn lỏng lẻo. Học viên sau tốt nghiệp khó đáp ứng yêu cầu công việc tại nhà máy. Tình trạng này đòi hỏi phải nghiên cứu giải pháp cải tiến toàn diện chương trình đào tạo.

2.1. Hạn chế về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên

Cơ sở vật chất tại Trung tâm Dạy nghề huyện Trần Văn Thời còn nhiều thiếu thốn. Số lượng máy may công nghiệp không đủ phục vụ đào tạo thực hành. Trang thiết bị dạy học lạc hậu, không đồng bộ với công nghệ sản xuất hiện đại. Đội ngũ giáo viên dạy nghề may có trình độ chuyên môn chưa cao. Nhiều giáo viên chưa qua đào tạo bài bản về công nghệ may tiên tiến. Giáo viên thiếu cơ hội bồi dưỡng nâng cao tay nghề tại doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề may công nghiệp. Cần có giải pháp đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất và nâng cao năng lực giáo viên.

2.2. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp

Khoảng cách giữa kết quả đào tạo và yêu cầu doanh nghiệp là vấn đề nghiêm trọng. Học viên tốt nghiệp thiếu kỹ năng thực hành trên máy móc hiện đại. Kiến thức chương trình đào tạo chưa cập nhật công nghệ may mới nhất. Doanh nghiệp phải đào tạo lại công nhân sau khi nhận từ trung tâm dạy nghề. Sự thiếu liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp khiến chương trình lạc hậu. Nhu cầu thị trường lao động thay đổi nhanh nhưng chương trình đào tạo chậm cập nhật. Tình trạng này gây lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả đào tạo nghề. Cần xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa trung tâm và doanh nghiệp may.

III. Phương pháp vận dụng chương trình khung biên soạn chương trình đào tạo

Phương pháp vận dụng chương trình khung dựa trên quy trình phân tích nghề DACUM. Đây là phương pháp xây dựng chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện. Quy trình bao gồm các bước phân tích đầu cuối, xác định mục đích đào tạo. Tiếp theo xây dựng mục tiêu cụ thể cho từng mô đun kỹ năng. Xác định tiêu chí thành công dựa trên phân tích nghề và vị trí làm việc. Xem xét toàn bộ giai đoạn để hoàn thiện chương trình đào tạo. Xây dựng công cụ đánh giá năng lực thực hiện cho mỗi kỹ năng. Nhóm điều phối phối hợp với chuyên gia nội dung và chuyên gia phương pháp. Các hội thảo thẩm định được tổ chức trước khi ban hành chính thức. Quy trình này đảm bảo chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc gia, phù hợp địa phương.

3.1. Quy trình phân tích nghề DACUM trong biên soạn chương trình

Phân tích nghề DACUM là phương pháp hiệu quả trong xây dựng chương trình đào tạo. Phương pháp này dựa trên sự đánh giá khách quan của các chuyên gia nghề may. Nhóm chuyên gia bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy. Họ xác định danh sách kiến thức kỹ năng trọng tâm cần đào tạo. Tiêu chuẩn thực hiện cho mỗi kỹ năng được xây dựng cụ thể rõ ràng. Phân tích đầu cuối giúp xác định năng lực người học cần đạt sau đào tạo. Kết quả phân tích nghề là cơ sở khoa học cho việc biên soạn chương trình. Quy trình này đảm bảo tính khách quan và thực tiễn của nội dung đào tạo.

3.2. Xây dựng mục tiêu và tiêu chí đánh giá đào tạo

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của chương trình đào tạo nghề may

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc vận dụng chương trình khung mang lại hiệu quả tích cực. Chương trình đào tạo nghề may công nghiệp được biên soạn phù hợp đặc điểm địa phương. Phương pháp phân tích nghề DACUM đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Nội dung đào tạo gắn liền với yêu cầu thực tế sản xuất tại doanh nghiệp. Chất lượng đào tạo được nâng cao rõ rệt so với chương trình cũ. Học viên có kỹ năng thực hành tốt hơn, đáp ứng yêu cầu công việc. Tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo tăng đáng kể. Mô hình vận dụng chương trình khung có thể áp dụng tại các trung tâm dạy nghề khác. Nghiên cứu góp phần thực hiện thành công đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là đóng góp quan trọng cho phát triển giáo dục nghề nghiệp vùng nông thôn.

4.1. Hiệu quả đào tạo và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

4.2. Khuyến nghị áp dụng mô hình cho các trung tâm dạy nghề khác

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ vận dụng chương trình khung trong biên soạn chương trình đào tạo nghề may công nghiệp ở trung tâm dạy nghề huyện trần văn thời tỉnh cà mau

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu. Phần B: Nội dung (gồm có 03 chƣơng). Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vận dụng chƣơng trình khung trong biên soạn chƣơng trình đào tạo nghề may công nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng về vận dụng chƣơng trình khung trong biên soạn chƣơng trình đào tạo nghề may công nghiệp.

Chƣơng 3: Vận dụng chƣơng trình khung trong biên soạn chƣơng trình đào tạo nghề may công nghiệp tại Trung tâm Dạy nghề huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau. Phần C: Kết luận và kiến nghị. 6 PHẦN B: NỘI DUNG CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG CHƢƠNG TRÌNH KHUNG TRONG BIÊN SOẠN CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ MAY CÔNG NGHIỆP.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Giáo dục nghề đã đƣợc hình thành cách đây khoảng bốn ngàn năm.

Loại hình giáo dục hƣớng nghiệp đầu tiên là dạy nghề. Dạy nghề đầu tiên đƣợc tổ chức theo cách truyền đạt kiến thức cơ bản trong phạm vi lớp học và nâng cao kỹ năng thực hành qua kinh nghiệm làm việc. Đến khi các chƣơng trình dạy nghề có tổ chức bắt đầu phát triển mạnh, ngƣời ta vẫn duy trì cách sắp xếp căn bản nhƣ thế. Mặc dù các chƣơng trình dạy nghề đƣợc mở rộng nhanh chóng cùng những lĩnh vực kỹ năng khác đang trở nên chuyên dụng, ngƣời ta vẫn chú trọng vào việc đào tạo trong môi trƣờng thực tế, phần lớn bao gồm các mô phỏng có ý thức.

Cho đến thế kỷ 19, mô hình hƣớng dẫn dạy nghề hầu nhƣ vẫn duy trì, không thay đổi. Quá trình dạy và học là một nhu cầu tất yếu khi con ngƣời xuất hiện, họ tích lũy kinh nghiệm và truyền lại cho thế hệ sau. Các loại hình đào tạo cũng dần phát triển với sự phát triển của các nền văn minh. Các hình thức đào tạo thay vì ở dạng truyền nghề theo truyền thống đã dần chuyển sang hình thức tổ chức có hệ thống, có mục tiêu và dần hình thành các loại hình đào tạo kỹ thuật và nghề nghiệp hoạt động chặt chẽ.Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài.

Xây dựng chƣơng trình đào tạo là bƣớc vô cùng quan trọng quyết định lớn đến kết quả của dạy nghề. 7 Hiện nay trên thế giới có rất nhiều mô hình thiết kế chƣơng trình đào tạo nhƣng đối với mỗi ngành nghề, mỗi giai đoạn phát triển của xã hội sẽ sử dụng phƣơng pháp thiết kế chƣơng trình cho phù hợp.  Trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 mô hình phát triển hệ thống giáo huấn nổi bật đƣợc chấp nhận, áp dụng rộng rãi để thiết kế các chƣơng trình huấn luyện trong nhiều cơ sở quân đội ở Mỹ.  Năm 1980 Gay đƣa ra 4 mô hình về quá trình thiết kế chƣơng trình đào tạo[8].

Mô hình hàn lâm: sử dụng lôgic nhƣ là cơ sở cho việc quyết định chƣơng trình đào tạo. Điều quan tâm ở chỗ sử dụng cấu trúc vốn có của một môn học hay các môn học để cấu tạo nội dụng chƣơng trình đào tạo. Trong trƣờng hợp này việc thiết kế chƣơng trình đào tạo đƣợc coi nhƣ là “vƣợt nên trên đặc ứng của các tình huống đặc biệt của nhà trƣờng”. Mô hình kinh nghiệm: Trái với mô hình lý thuyết ở chỗ coi ngƣời học là trung tâm và có định hƣớng hoạt động.

Các mục tiêu có định hƣớng con ngƣời và quá trình đƣợc nhấn mạnh coi ngƣời học nhƣ là một cá thể và thành viên của một trật tự xã hội. Mô hình thực dụng: đề cao kế hoạch hóa đƣợc tiến hành trong hoàn cảnh địa phƣơng. Các tác nhân chính trị xã hội điều khiển việc thiết kế phải là một quá trình địa phƣơng hóa đặc biệt hơn là đặt để từ bên ngoài tổ chức trƣờng học địa phƣơng. Mô hình kỹ thuật: coi bản thân sự học tập là một hệ thống, có thể rút gọn ở những bộ phận cấu thành.

Tính năng của nó có thể cải thiện qua nhiều nguyên tắc quản lý.  Năm 1980 mô hình hệ thống công nghệ đào tạo đƣợc Richard Swanson triển khai và sàng lọc lại vào những năm gần đây gồm có 5 giai đoạn [8]. Phân tích những vấn đề đào tạo và không thuộc đào tạo của một tổ chức phải đƣợc tách ra. Khi sử dụng các chiến lƣợc đánh giá nhu cầu, các nhu cầu của tổ chức phải đƣợc nhận rõ, xác định nguyên nhân, nghiên cứu giải pháp và kế hoạch.

8 Thiết kế: gồm thiết kế chƣơng trình và thiết kế bài học. Thiết kế bài học phải đƣợc liên kết gắn khít với dạng tâm lý giáo dục của đào tạo. Triển khai: qua việc xem xét thiết kế bài học, các tài liệu đƣợc chuẩn bị theo sự hỗ trợ của các kế hoạch. Trắc nghiệm thí điểm tài liệu để đảm bảo an toàn.

Mọi khuyết điểm đƣợc chú ý có thể làm cơ sở để xét duyệt tài liệu, thiết kế bài học và thiết kế chƣơng trình. Thực thi: có nghĩa là lúc đề cập đến quản lý và phân phối đào tạo. Một kế hoạch quản lý đào tạo đƣợc chuẩn bị bao gồm biểu thời gian môn học, khóa học và việc quản lý. Các phƣơng pháp đặc trƣng đƣợc sử dụng để tổ chức các công việc cần thiết nhằm thực thi một chƣơng trình đào tạo.

Kiểm tra: tập trung vào 3 lĩnh vực: đánh giá và báo cáo mức hiệu quả đào tạo, xem xét và duy trì mức độ thành thạo của học viên khi họ trở lại nghề nghiệp. Trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 sự phát triển hệ thống giáo huấn nổi bật nhƣ cách tiếp cận đƣợc chấp nhận rộng rãi để thiết kế các chƣơng trình huấn luyện trong nhiều cơ sở quân đội ở Mỹ, mô hình này gồm 5 giai đoạn [8]. Phân tích: công việc thực hành và kỳ vọng phát triển ở nhiều nghề. Phân tích này bao gồm việc nhận định và chính xác các nhiệm vụ và công việc cho tính chất đặc biệt của binh nghiệp.

Khuôn khổ của giáo huấn đƣợc xem nhƣ một phần của giai đoạn phân tích. Thiết kế các mục tiêu và nhận ra các hành vi nhập học của học viên. Mục tiêu học tập hoàn thành biểu hiện điều mà học viên kỳ vọng để thực hiên trong nghề nghiệp trong khi các mục tiêu học tập trung gian góp phần vào việc chứng minh thực hiện hoàn tất. Thứ tự và cấu trúc các mục tiêu cũng rất quan trọng, khi góp phần tối ƣu sự học tập của học viên.

Triển khai tập trung vào liên hệ các mục tiêu với các nguyên tác học tập cơ bản, nhận ra các hƣớng dẫn học tập cần thiết để tối ƣu học tập và chuyên biệt hóa các hoạt động có thể diễn ra trong môi trƣờng học tập. Các hƣớng dẫn học tập tổng quát đƣợc trình bày nhƣ: Thông báo các mục tiêu cho học viên, chuẩn bị đáp ứng tích cực, chuẩn bị hƣớng dẫn, chuẩn bị phản hồi. 9 Thực hiện kế hoạch quản lý giáo huấn. Kế hoạc này mô tả giáo huấn sẽ cung cấp và thiết bị tài liệu, và các nguồn cung cấp khác phải đực sử dụng.

Kiểm tra: giai đoạn này hệ thống toonge thể đƣợc đánh giá. Dù kiểm tra chất lƣợng là một phần trọn vẹn của mỗi giai đoạn, điều quan trọng là phải chú ý hình thức kiểm tra nào bao quát hơn. Kết quả đƣợc phân tích để xác địnhnhũng thay đổi nào nếu có đến hệ thống.  Cải cách và xây dựng chƣơng trình đào tạo kỹ thuật theo CDIO.

CDIO là một đề xƣớng quốc tế lớn đƣợc hình thành để đáp ứng nhu cầu trong một thập kỷ mới của các doanh nghiệp và của các bên liên quan khác trên toàn thế giới trong việc nâng cao khả năng của sinh viên, tiếp thu các kiến thức cơ bản, đồng thời đẩy mạnh việc học tập cá nhân và giao tiếp, kỹ năng kiến tạo sản phẩm, quy trình và hệ thống. Đề xƣớng CDIO đến nay đã có khoảng 60 trƣờng đại học thành viên trên khắp thế giới, trong đó có hơn 70 chƣơng trình đào tạo tham gia bao gồm nhiều ngành kỹ thuật cũng nhƣ ngành không thuộc lĩnh vực kỹ thuật, dịch vụ, khách sạn, quản lý môi trƣờng, kiến trúc và thiết kế, khoa học tự nhiên. Các trƣờng và các chƣơng trình đào tạo tham gia đã sử dụng phƣơng pháp luận CDIO làm phƣơng châm cho việc cải tiến toàn diện. Phƣơng pháp DACUM là phƣơng pháp tiên tiến trong Dạy nghề, năm 1966 nó có mặt đầu tiên tại Canada.

Phƣơng pháp DACUM đƣợc áp dụng làm cơ sở để triển khai các chƣơng trình đào tạo của nhà trƣờng. Năm 1969 DACUM đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều trƣờng đại học tại Canada, tháng 1/1976 DACUM đƣợc tổ chức tại Hoa Kỳ, tháng 12/1982 Hoa Kỳ tiến hành hội thảo “DACUM về DACUM”, tháng 1/1983 hội thảo DACUM tiến hành tại Venezuela, tháng 11/1983 tiến hành hội thảo DACUM tại Indonesia. Trong 10 năm từ năm 1976 đến năm 1985 hơn 125 hội thảo DACUM tiến hành tại Hoa Kỳ. Đến nay mấy vạn biểu đồ DACUM đƣợc tiến hành trên thế giới.

Đến năm 1995 DACUM đã áp dụng vào phân tích đƣợc 6 nghề tại Việt Nam. Cho đến nay tại nƣớc ta một bộ phận giáo viên còn thấy nó quá mới mẻ.Các nghiên cứu trong nƣớc. Dạy nghề từ khi ra đời đến nay đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, mỗi giai đoạn khác nhau của xã hội có cách quản lý và hình thức dạy nghề khác nhau. Hiện nay chƣơng trình đào tạo là vấn đề quan trọng quyết định rất lớn đến việc triển khai có hiệu quả luật giáo dục và luật dạy nghề.

Năm 1986 đƣợc sự tài trợ của UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc) viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã tổ chức hội thảo về nội dung biên soạn chƣơng trình đào tạo nghề, trong đó có đề cập đến kinh nghiệm đào tạo theo mô đun ở một số nƣớc. Năm 1990 đƣợc sự tài trợ của ILO (tổ chức lao động quốc tế) Bộ Giáo dục – Đào tạo đã tổ chức hội thảo để tìm hiểu khả năng ứng dụng phƣơng thức đào tạo nghề theo mô đun vào Việt Nam. Năm 1992 dƣới sự tài trợ của UNDP (chƣơng trình phát triển liên hiệp quốc) trung tâm phƣơng tiện kỹ thuật dạy nghề đã tổ chức hội thảo về phƣơng pháp tiếp cận đào tạo nghề theo mô đun. Từ năm 2002 trở về trƣớc chƣơng trình dạy nghề đƣợc xây dựng theo “Quy định mục tiêu chƣơng trình đào tạo công nhân kỹ thuật”, chƣơng trình đào tạo đƣợc xây dựng theo niên chế, không thƣờng xuyên cập nhật công nghệ mới vì vậy sản phẩm của đào tạo nghề bị tụt hậu nghiêm trọng so với sự phát triển không ngừng của thị trƣờng lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ