Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về vai trò của luật sư trong việc bảo vệ công lý Chương 2: Thực trạng vai trò của luật sư trong việc bảo vệ công lý trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƢ TRONG VIỆC BẢO VỆ CÔNG LÝ 1. Khái niệm công lý, các phƣơng thức và ý nghĩa của bảo vệ công lý 1. Khái niệm công lý Trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, khái niệm “công lý” đã được nhiều nhà tư tưởng đề cập đến.
Khái niệm “công lý” được xác định dựa trên nhiều khía cạnh, góc độ tiếp cận khác nhau, thể hiện những khác biệt giữa các nền văn hóa khác nhau, giữa các thời điểm lịch sử tư tưởng nhà nước và pháp luật khác nhau. Xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại, công lý được Bộ luật Hammurabi của Nhà nước Lưỡng Hà khắc họa khá rõ nét bằng sự trả thù cá nhân, bằng luật báo thù, dĩ oán báo oán. Công lý lúc này được hiểu là yêu cầu áp dụng hình phạt ngang bằng với thiệt hại mà kẻ phạm tội gây ra, đó chính là nguyên tắc báo thù Talion (mắt đền mắt, răng đền răng). Ví dụ, một người thợ xây làm chết con của chủ nhà thì con của người thợ xây phải bị giết theo nguyên tắc báo thù Talion Theo đánh giá, đây là một bộ luật mà nguyên tắc Talion được áp dụng một cách triệt để, tàn khốc và cứng nhắc một cách cực đoan [24].
Ở giai đoạn thứ hai, nhận thức về khái niệm “công lý” không theo nguyên tắc báo thù, mà thay vào đó là sự bồi thường, phạt vạ, để nhằm giữ yên ổn, hoà hảo trong nội bộ các bộ tộc, bộ lạc. Một ví dụ sinh động về cách phạt vạ khá cẩn thận, tỉ mỉ của người Abysinie trong giai đoạn này như sau: “Nếu một đứa nhỏ trên cây té xuống đúng vào một đứa bạn của nó, làm cho đứa này chết thì mẹ của đứa chết có quyền sai một đứa khác leo lên cây rồi buông tay cho rớt xuống đúng đầu đứa phạm tội”. Đến giai đoạn thứ ba, để ngăn chặn các cuộc trả thù cá nhân, toà án đã được thành lập để thẩm định, đánh giá các 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mức độ thiệt hại, từ đó hoà giải, điều đình, phân xử các xung đột giữa các cá nhân trong xã hội. Công lý và tư pháp xét xử đã vững bước song hành từ những bước phát triển của lịch sử văn minh nhân loại như vậy [33].
Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại - cái nôi của văn minh phương Tây, công lý được cho rằng bắt nguồn từ trật tự xã hội, một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật tự, ổn định. Theo Plato - nhà triết học Hy Lạp nổi tiếng, người đã đặt những luận giải của mình về công lý chủ yếu trong các tranh luận về vấn đề đạo đức, công lý là một khái niệm thể hiện phẩm hạnh và sự hài hoà của cộng đồng, là kết quả của sự đồng tâm hợp tác giữa những cá nhân có đức hạnh tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng và quốc gia. Công lý liên quan trực tiếp đến sự tiết chế và khả năng tự kiểm soát của mỗi cá nhân. Công lý là một vấn đề giản dị nếu con người cũng giản dị, rời xa lòng tham lam và sự xa hoa và sống theo đúng chức phận của mình.
Công lý xuất phát từ sự hài hoà và nó hướng tới những người khác thông qua những hành vi nhân hậu và tử tế [31]. Còn theo Aristotle, một trong những người thầy có ảnh hưởng nhất đối với bộ môn triết học chính trị, thì công lý cốt ở việc đối xử bình đẳng với những người ngang nhau và bất bình đẳng với những người không ngang hàng, tương xứng với sự khác nhau về địa vị của họ. Theo ông, công lý được chia thành “công lý cải tạo” - nơi mà toà án sửa chữa một lỗi lầm do một bên phạm phải đối với bên khác và “công lý phân phối” - cách thức, nỗ lực cố gắng để công bằng với mỗi người, đúng theo những gì mà người đó xứng đáng. Theo Aristotle, công lý phân phối chính là mối quan tâm chủ yếu, hàng đầu của các nhà lập pháp.
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng luật pháp và công lý là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất, thậm chí, trong một số xã hội, luật pháp đôi khi đi trệch hướng hoặc đối nghịch với công lý [25]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong xã hội hiện đại, những giải thích về công lý có khuynh hướng tập trung vào công lý phân phối với mục tiêu làm thế nào để xã hội có thể phân phối một cách công bằng nhất những gánh nặng và phúc lợi của đời sống xã hội, từ đó đã đưa khái niệm công lý mang tính thực tiễn và chính trị hơn là một quan niệm siêu hình trước đây. Hayek, một trong những kiến trúc sư chính của cuộc xây dựng lại chủ nghĩa tự do, khẳng định sự tương đồng giữa tính “mù” của công lý và cạnh tranh, theo ông, công lý và cạnh tranh đều không thiên vị ai và pháp luật chính là công lý hình thức [14]. Còn John Rawls, đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa tự do của Mỹ, đã định nghĩa công lý là lẽ phải, điều thiện và là phẩm hạnh tối cao của con người.
Công lý là sự công bằng và công lý chính là chuẩn mực của một xã hội lý tưởng. Chuẩn mực của công bằng trong một thể chế xã hội cụ thể chính là nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi cá nhân. Theo ông, công bằng chỉ có được khi con người tự nguyện cùng tham dự vào quá trình hợp tác xã hội để làm sao mỗi cá nhân giành được lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn lẻ [35]. Nhìn chung, người phương Tây quan niệm công lý là một khái niệm triết lý, pháp luật, đạo đức đặt ra trên cơ sở tôn trọng pháp luật và sự công bằng.
Về mặt đạo đức: Công lý là thái độ, cách ứng xử tôn trọng chân lý và tự do của người khác, thái độ này là có nguồn gốc bẩm sinh và phổ biến trong ý thức mỗi con người. Dưới góc độ pháp luật, công lý là sự công bằng bình đẳng. Công lý là nền tảng của cuộc sống xã hội dân sự. Trong truyền thống và văn hóa của người châu Phi và châu Á cũng có quan niệm khác nhau về công lý.
Theo quan niệm của người châu Phi, công lý là sự ứng xử phù hợp với truyền thống của tiền nhân. Ở Ấn Độ, người Hindous coi công lý là sự tôn trọng và chấp nhận trật tự, đẳng cấp trong xã hội. Còn giáo lý đạo Ki-tô thì cho rằng công lý là sự công bằng, sự liêm khiết, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự phán quyết công minh phù hợp với pháp luật và trên hết là phù hợp với lề luật thiên chúa và luật tự nhiên [27]. Trong cuốn từ điển Luật Black, “công lý” đã được định nghĩa là “sự công bằng và hợp lý, với ba ý niệm cơ bản: sự nhấn mạnh về tầm quan trọng cá nhân, yêu cầu các cá nhân phải được đối xử một cách phù hợp, không thiên vị và bình đẳng” [33].
Ở Việt Nam, những tư tưởng, khát vọng về một nền công lý đích thực đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền bá từ năm 1925 trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (Chương VIII - Công lý). Bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một hình ảnh về chế độ phi pháp quyền, vô nhân đạo và phản tiến hoá mà người Pháp áp đặt tại Việt Nam: Công lý được tượng trưng bằng một người đàn bà dịu hiền, một tay cầm cân, một tay cầm kiếm. Vì đường từ Pháp đến Đông Dương xa quá, xa đến nỗi sang được tới đó thì cán cân đã mất thăng bằng, đĩa cân đã chảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc phiện hoặc những chai rượu ty, nên người đàn bà tội nghiệp chỉ còn lại độc cái kiếm để chém giết. Bà chém giết đến cả người vô tội, và nhất là người vô tội [26].
Ngày nay, khái niệm công lý đã được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu gần đây của một số tác giả như: Nguyễn Đăng Dung (Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền) [6]; Nguyễn Văn Hiển (Bàn về hệ thống pháp luật) [17], Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Mối quan hệ giữa pháp luật và công lý – Lý luận và thực tiễn”), Vũ Công Giao (Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp quyền) [31] … Bên cạnh đó, về khía cạnh ngôn ngữ, khái niệm công lý cũng đã xuất hiện trong một số từ điển, ví dụ như: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công lý là lẽ phải, lẽ công bằng, phù hợp với pháp luật đương thời, không thiên lệch, không tư vị. Chế độ nào cũng coi tòa án là tượng trưng cho công lý, là cơ quan công lý của chế độ ấy [30]. Hay công lý là: Sự công bằng hay chính nghĩa, sự đúng đắn, lẽ phải. Thường được dùng trong đời sống pháp lý và đặc biệt là trong hoạt động tư pháp [2]; Công lý là sự nhận biết đúng đắn và tôn trọng theo lẽ phải các quyền lợi ích chính đáng của mọi người [22].
Tóm lại, các quan niệm trên đều đã phần nào tiếp cận đến một khía cạnh nào đó của công lý như công bằng, tôn trọng trật tự xã hội và pháp luật, nhưng suy cho cùng, công lý vẫn mang một ý nghĩa nội dung chung nhất là việc bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa con người với con người đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, người này không được phép làm phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, nếu có sự vi phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì người đó sẽ phải chịu trách nhiệm và trả giá cho những phương hại mà mình đã gây ra. Công lý đã, đang và sẽ xuất hiện như một khát vọng về tự do, công bằng, chính nghĩa, lẽ phải, lòng nhân ái và những phẩm hạnh cao quý trong mỗi con người, mỗi xã hội.