Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 900 năm lịch sử kể từ năm 1070 khi vua Lý Thánh Tông cho xây dựng, Văn Miếu Thăng Long đã khẳng định vị thế là trung tâm văn hóa và giáo dục Nho học tiêu biểu nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, giai đoạn 61 năm từ năm 1884 đến năm 1945 dưới ách thống trị của thực dân Pháp là thời kỳ quần thể di tích này phải đối mặt với những biến động dữ dội nhất về cả công năng lẫn diện mạo kiến trúc. Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào thời kỳ quân chủ từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIX hoặc giai đoạn sau năm 1975, tạo nên một khoảng trống sử liệu kéo dài hơn 6 thập kỷ về số phận của ngôi miếu cổ kính này.

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là làm sáng tỏ quá trình biến đổi công năng, sự điều chỉnh về mặt bằng kiến trúc, cơ chế quản lý hành chính và thực hành nghi lễ tế tự tại Văn Miếu Hà Nội trong giai đoạn 1884-1945. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ diện tích hơn 5 ha của quần thể di tích, bao gồm cả khu nội tự và ngoại tự với Hồ Văn, Vườn Giám, Điện Khải Thánh. Bằng việc khai thác hệ thống tư liệu gốc, nghiên cứu phục dựng bức tranh chân thực về sự tồn tại liên tục của di tích, đồng thời cung cấp các cứ liệu khoa học chuẩn xác đạt độ tin cậy 100% nhằm phục vụ công tác quy hoạch, tôn tạo và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Biến đổi Văn hóa kết hợp cùng Lý thuyết Tiếp xúc và Xung đột Văn hóa thuộc địa để phân tích các tương tác chính trị - xã hội xoay quanh di tích. Nghiên cứu xây dựng mô hình tương tác đa chiều giữa 3 chủ thể chính: chính quyền thực dân Pháp, đội ngũ quan lại cùng sĩ phu Bắc Hà và cộng đồng dân cư bản địa.

Khung phân tích được định hình qua 4 khái niệm khoa học then chốt: Thiết chế Nho học, Không gian thiêng, Di sản hóa thuộc địa và Công sản hóa đô thị. Cách tiếp cận này giúp lý giải sâu sắc nguyên nhân các chính sách thuộc địa đã làm biến dạng không gian văn hóa truyền thống, đồng thời làm nổi bật sức đề kháng văn hóa bền bỉ của người Việt nhằm bảo tồn các giá trị Nho giáo nền tảng trước làn sóng phương Tây hóa đầu thế kỷ XX.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác trực tiếp từ hơn 50 hồ sơ tư liệu lưu trữ gốc bằng tiếng Pháp và chữ Hán tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, nằm trong 4 phông lưu trữ lớn: Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, Tòa Đốc lý Hà Nội, Tòa Công sứ Hà Đông, cùng Sở Địa chính và Nhà cửa Hà Nội. Bên cạnh đó, tác giả thu thập các bản đồ cổ, báo cáo khảo cổ của Viện Viễn Đông Bác cổ và các bộ chính sử triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ có chủ đích đối với 100% các công văn hành chính, biên bản nghị định, bản vẽ quy hoạch kiến trúc giai đoạn 1884-1945 có liên quan trực tiếp đến Văn Miếu. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn diện các văn bản pháp lý từ sắc lệnh cấp trung ương đến đơn thư khiếu nại của nhân dân địa phương.

Lý do lựa chọn phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic và kỹ thuật phê phán sử liệu (bao gồm phê phán nội quan và ngoại quan) là nhằm thẩm định tính xác thực, kiểm tra chéo các nguồn tin hành chính thực dân vốn mang tính thiên kiến với ghi chép thực tế của người bản xứ. Toàn bộ quá trình thu thập, dịch thuật và phân tích dữ liệu được triển khai nghiêm túc trong suốt timeline nghiên cứu 24 tháng từ năm 2011 đến năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện Văn Miếu Hà Nội đã trải qua chuỗi biến đổi công năng phức tạp với 3 lần bị chuyển đổi mục đích sử dụng ngoài tôn giáo. Năm 1884, thực dân Pháp biến nơi đây thành khu quân sự cho Trại lính Quảng Yên với quy mô ban đầu hơn 400 lính, cao điểm năm 1888 chiếm đóng tới 2 đại đội (gần 200 lính), dẫn đến việc đóng cửa cấm người dân tế lễ suốt gần 7 năm (1888-1895). Sau đó, di tích tiếp tục bị sử dụng làm trường huấn luyện lính khèn đến năm 1902 và bệnh xá cách ly dịch hạch cho thành phố trong giai đoạn 1903-1904 trước khi được trả lại cho việc thờ tự vào tháng 3 năm 1904.

Thứ hai, mặt bằng không gian của di tích bị thu hẹp đáng kể do quá trình quy hoạch đô thị. Việc mở rộng các tuyến đường phố như đường Duvillier (nay là phố Nguyễn Thái Học) đã chia cắt hoàn toàn Hồ Văn và Vườn Giám khỏi khuôn viên nội tự. Nhờ cuộc đấu tranh kiên trì với 32 chữ ký của các nhà Nho Bắc Kỳ năm 1939, chính quyền thuộc địa đã buộc phải ký quyết định trao trả lại Hồ Văn ngày 30 tháng 5 năm 1940 và Vườn Giám ngày 27 tháng 2 năm 1941.

Thứ ba, công tác tu sửa và quản trị di tích diễn ra liên tục qua 4 đợt trùng tu lớn: năm 1888, giai đoạn 1897-1901, giai đoạn 1904-1909 và giai đoạn 1910-1945. Về mặt pháp lý, di tích được đưa vào danh mục bảo vệ theo Nghị định ngày 15 tháng 4 năm 1905 và chính thức xếp hạng Di tích lịch sử Đông Dương vào tháng 7 năm 1925 dưới sự giám sát chuyên môn của Viện Viễn Đông Bác cổ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những thăng trầm trên bắt nguồn từ chính sách cai trị mang tính hai mặt của thực dân Pháp: vừa muốn đàn áp các biểu tượng tinh thần bản địa để thị uy sức mạnh, vừa buộc phải nhượng bộ nhằm mị dân và tranh thủ sự cộng tác của tầng lớp Nho sĩ dưới thời các Toàn quyền Jean-Marie de Lanessan và Paul Doumer. Đóng vai trò đối trọng là tinh thần đấu tranh bền bỉ của các quan lại và sĩ phu có tinh thần dân tộc như Nguyễn Trọng Hợp, Hoàng Trọng Phu khi sử dụng chính các công cụ pháp lý thuộc địa để bảo vệ quyền lợi văn hóa dân tộc.

So với các công trình nghiên cứu trước đây vốn cho rằng Văn Miếu hoàn toàn bị lãng quên hoặc hoang phế thời Pháp thuộc, luận văn đã chứng minh tỷ lệ bảo tồn kiến trúc lõi vẫn đạt trên 85% và mạch sống tâm linh chưa bao giờ bị cắt đứt hoàn toàn.

Để làm rõ các biến đổi này, hệ thống dữ liệu có thể được mô hình hóa sinh động thông qua biểu đồ đường timeline thể hiện 5 mốc chuyển dịch công năng từ năm 1884 đến năm 1945, kết hợp cùng bảng đối chiếu hiện trạng kiến trúc qua 3 mốc thời gian 1884, 1905 và 1945 trên 12 hạng mục công trình cụ thể, giúp người đọc hình dung rõ nét mức độ biến dạng và phục hồi của di tích qua từng thời kỳ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện số hóa toàn diện 100% khối tài liệu lưu trữ Pháp văn và Hán Nôm liên quan đến di tích. Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám cần chủ trì phối hợp cùng Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I hoàn thiện cơ sở dữ liệu số với hơn 200 trang hồ sơ và bản vẽ kỹ thuật trong giai đoạn 2026-2027.

Thứ hai, phục hồi không gian kết nối nguyên bản giữa khu nội tự với Hồ Văn và Vườn Giám. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cùng Sở Văn hóa và Thể thao cần xây dựng đề án quy hoạch tổng thể, giải tỏa các điểm nghẽn cảnh quan để nâng tỷ lệ liên kết không gian đạt trên 95% trước năm 2028.

Thứ ba, ứng dụng giải pháp công nghệ cao trong việc bảo tồn 82 bia Tiến sĩ và hệ thống kiến trúc gỗ lim. Viện Bảo tồn Di tích cần triển khai lắp đặt hệ thống cảm biến đo vi khí hậu và phủ vật liệu nano bảo vệ bề mặt đá, đặt mục tiêu giảm thiểu 80% tốc độ phong hóa tự nhiên trong lộ trình từ năm 2026 đến năm 2030.

Thứ tư, đổi mới sản phẩm du lịch di sản gắn liền với chiều sâu lịch sử. Các đơn vị lữ hành liên kết với Ban quản lý di tích xây dựng 5 tour trải nghiệm chuyên đề về lịch sử Văn Miếu thời kỳ thuộc địa, hướng đến mục tiêu thu hút hơn 1,5 triệu lượt khách trong và ngoài nước tham quan mỗi năm kể từ năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa học: Tìm thấy nguồn sử liệu hành chính nguyên bản bằng tiếng Pháp để bổ sung tư liệu nghiên cứu về sự chuyển biến của thể chế Nho giáo giai đoạn giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Chuyên gia bảo tồn và kiến trúc sư cảnh quan: Sử dụng các bản vẽ kỹ thuật năm 1899 của Voyer, bản vẽ năm 1913 của Aurousseau và lược đồ năm 1935 của Louis Belzacier làm căn cứ khoa học phục vụ các dự án trùng tu di tích kiến trúc gỗ truyền thống.

Nhà quản lý đô thị và hoạch định chính sách di sản: Rút ra các bài học kinh nghiệm sâu sắc về giải quyết xung đột giữa bảo tồn di sản văn hóa với nhu cầu mở rộng hạ tầng giao thông đô thị hiện đại.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một mẫu hình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu kết hợp phương pháp liên ngành và kỹ năng thẩm định văn bản học lưu trữ chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Văn Miếu Hà Nội từng bị gọi là Chùa Quạ trong thời kỳ Pháp thuộc?

Trong cuốn sách xuất bản năm 1887 của Dumoutier và hồi ký năm 1884 của bác sĩ Hocquard, Văn Miếu có hàng chục cây muỗm cổ thụ là nơi cư ngụ của hàng ngàn con quạ đen. Người Pháp khi đó đã quen gọi di tích bằng cái tên dân dã này trong nhiều văn bản hành chính suốt giai đoạn 1883-1885.

Quân đội Pháp đã chiếm đóng và cấm người dân tế lễ tại Văn Miếu trong bao lâu?

Quân đội viễn chinh Pháp chiếm đóng Văn Miếu từ năm 1884 và áp đặt lệnh cấm người Việt vào tế lễ nghiêm ngặt trong gần 7 năm, từ tháng 7 năm 1888 đến ngày 13 tháng 4 năm 1895. Sau khi quân số giảm xuống dưới 30 lính, chính quyền mới chấp thuận mở cửa trở lại kèm điều kiện xây tường ngăn cách.

Sự kiện Văn Miếu bị sử dụng làm bệnh xá cách ly diễn ra vào thời gian nào?

Vào đầu năm 1903, khi đại dịch hạch và dịch tả bùng phát mạnh tại Hà Nội làm hàng trăm người tử vong, Văn Miếu bị trưng dụng tạm thời làm trại cách ly y tế. Đến tháng 3 năm 1904, khi cơ sở điều trị Bạch Mai xây dựng xong, di tích mới được phun thuốc khử trùng và trả lại chức năng thờ tự.

Hồ Văn và Vườn Giám được chính thức trao trả lại cho Văn Miếu khi nào?

Sau nhiều thập kỷ bị cắt xén trong quá trình quy hoạch, Hội đồng thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định chính thức trao trả Hồ Văn vào ngày 30 tháng 5 năm 1940 và tiếp tục bàn giao Vườn Giám vào ngày 27 tháng 2 năm 1941 nhờ vào sự đấu tranh quyết liệt của 32 nhân sĩ Bắc Kỳ.

Chính quyền cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có ứng xử thế nào với di tích năm 1945?

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh bảo tồn cổ tích ngày 23 tháng 11 năm 1945 và trực tiếp đến dự lễ tế Thu ngày 21 tháng 10 năm 1945. Sang năm 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục chủ trì đại lễ tế ngày 22 tháng 9 năm 1946, khẳng định chủ trương bảo tồn tinh hoa văn hóa dân tộc của chính thể mới.

Kết luận

  • Phục dựng chân thực và toàn diện bức tranh lịch sử 61 năm đầy biến động của Văn Miếu Hà Nội dưới thời Pháp thuộc từ năm 1884 đến năm 1945.
  • Khai thác thành công hơn 50 hồ sơ lưu trữ quý hiếm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, làm rõ các giai đoạn chuyển đổi công năng và trùng tu di tích.
  • Khẳng định vai trò tiên phong của giới trí thức Nho học và nhân dân Hà thành trong phong trào bảo vệ không gian văn hóa truyền thống trước sức ép thực dân.
  • Chứng minh tính liên tục lịch sử của thiết chế thờ tự Nho giáo, làm tiền đề cho các chính sách bảo tồn di sản đúng đắn của chính quyền cách mạng từ cuối năm 1945.
  • Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác phục vụ hiệu quả công tác quy hoạch, tu bổ và phát huy giá trị quần thể di tích quốc gia đặc biệt trong tương lai.

Trong giai đoạn 3 năm tới, hướng nghiên cứu cần được tiếp tục mở rộng sang giai đoạn 1946-1954 để hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về di tích. Quý độc giả và các nhà nghiên cứu hãy cùng đón đọc toàn văn công trình để tiếp cận nguồn sử liệu vô giá và chung tay gìn giữ biểu tượng ngàn năm văn hiến của thủ đô Hà Nội.