đặt vấn đề và nghiên cứu về con người, là thái độ khoa học đối với con người, con người như một thực thể của cõi sống. “Nhân đạo” hay “chủ nghĩa nhân đạo” là nói đến lòng thương người, đến sự mẫn cảm trước nỗi đau khổ, bất hạnh của đồng loại, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo, chủng tộc… mong muốn những điều tốt lành, những niềm hạnh phúc đến với mỗi người. Tư tưởng nhân văn đặt con ngưởi ở vị trí trung tâm, đề cập đến số phận, vai trò, bản chất của con người, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ước muốn giải phóng bản thân của con người. Xét về thực chất, nhân văn là một giá trị mang tính phổ quát, tổ hợp các yếu tố Chân- Thiện- Mỹ.
Nó thuộc bản chất người và là hiện thân của thiên hướng vươn lên và hoàn thiện không ngừng của chính con người. Vì thế, nhân văn bao giờ cũng là lý tưởng và mục tiêu mà loài người hằng vươn tới; nó tồn tại và biến thiên, ngày càng thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong suốt tiến trình đi lên của xã hội loài người. Tóm lại, Tư tưởng nhân văn là các quan niệm tích cực về con người, xã hội loài người, lấy con người làm trung tâm. Tư tưởng nhân văn đề cao vai trò, vị trí, bản chất tốt đẹp của con người; yêu thương, tôn trọng con người, ủng hộ, đấu tranh vì sự tự do, bình đẳng, sự phát triển, phong phú, toàn diện của loài người không phân biệt chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, giai cấp…và ước 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vọng xây dựng một xã hội tốt đẹp vì con người trên cơ sở hòa bình, tôn trọng lẫn nhau.
Những nhân tố hình thành và phát triển tƣ tƣởng nhân văn của Nguyễn Trãi 1. Điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội Nhà Trần lâm vào khủng hoảng Nước Đại Việt, từ nửa sau thế kỉ XIV, những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng trong xã hội dần xuất hiện. Nhà nước không còn quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, đê điều dẫn đến mùa màng thất bát. Ruộng đất công bị xâm lấn, thu hẹp, nông dân thiếu ruộng cày, đời sống ngày càng bần cùng, khốn khó.
Cuối thời Trần, vua quan, quý tộc, địa chủ sống xa hoa, xây dựng nhiều dinh thự, chùa chiền. kỉ cương phép nước rối loạn, quyền thần lũng đoạn ( Chu Văn An dâng sớ xin vua chém 7 tên nịnh thần nhưng không được vua chấp nhận phải cáo quan), nông dân nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi. Đầu năm 1344, Ngô Bệ hô hào nông dân ở Yên Phụ (Hải Dương) đứng lên khởi nghĩa, bị triều đình đàn áp nên thất bại. Đầu năm 1390, nhà sư Phạm Sư Ôn hô hào nông dân ở Quốc Oai (Sơn Tây, Hà Nội) nổi dậy.
Nghĩa quân đã chiếm được kinh thành Thăng Long trong 3 ngày. Sau đó, triều đình đã huy động một lực lượng lớn đàn áp nên cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại. Trong quan hệ với bên ngoài, Champa nổi dậy không chịu thuần phục, liên tục gây hấn với triều đình nhà Trần. Tính từ năm 1361 đến 1391 đã có tới 14 lần xung đột quân sự diễn ra giữa quân Chiêm Thành và Đại Việt.
Trong suốt 31 năm xung đột Đại Việt- Chiêm Thành (1361- 1390) chỉ đến trận cuối cùng (cuối 1389 đầu 1390) khi vua Chiêm- Chế Bồng Nga- người khởi xướng và chỉ huy các cuộc tấn công Đại Việt tử trận thì xung đột giữa Đại Việt với Chiêm Thành mới chấm dứt. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặt khác, ở phía Bắc, năm 1388 nhà Minh sai sứ sang đòi Đại Việt phải cống nộp lương thực và các loại trái cây đặc sản và những báu vật, sản vật quý hiếm. Nhà Trần buộc phải cống nộp 5000 thạch lương. Năm 1395, nhà Minh vờ cho người sang Đại Việt xin giúp 50 con voi 50 vạn hộc lương.
Những việc làm trên nhằm thăm dò nhà Trần và chuẩn bị tiến hành âm mưu xâm lược đã được vạch ra từ trước của nhà Minh. Tóm lại, Đại Việt cuối thế kỉ XIV đã lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và toàn diện. Điều đó thể hiện ở những điểm như chính quyền suy yếu, nịnh thần chuyên quyền, dòng họ thống trị (quý tộc họ Trần- tác giả) sa đọa, nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng, dẫn đến nông dân nghèo, nô tì nổi dậy chống đối, hay bỏ trốn. Trong lúc đó, những cuộc tấn công đánh phá của Chămpa lại liên tục diễn ra, càng khiến cho cuộc sống của dân chúng thêm khổ cực, triều chính thêm rối ren, tài chính kiệt quệ.
Thêm vào đó, Đại Việt đứng trước nguy một cuộc xâm lược ngày càng đến gần của quân Minh. Giữa lúc khủng hoảng đó xuất hiện một nhân vật đặc biệt, đó là Hồ Quý Ly. Từ quan hệ ngoại thích, Hồ Quý Ly dần được Trần Nghệ Tông tin dùng, Năm 1395, làm chức Nhập nội phụ chính Thái sư, Bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên trung vệ quốc đại vương, đeo lân phù bằng vàng. thao túng cả triều đình.
Ngay từ khi còn là một đại thần, đặc biệt sau khi lên ngôi vua (năm 1400), Hồ Quý Ly đã thực hiện những cải cách trên nhiều lĩnh vực. Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly Về chính trị, Hồ Quý Ly cải tổ hàng ngũ võ quan, thay thế dần các võ quan cao cấp do quý tộc tôn thất nhà Trần nắm giữ bằng những người không phải họ Trần nhưng có tài năng và thân cận với mình. Hồ Quý Ly cho đổi tên một số đơn vị hành chính cấp trấn và quy định cụ thể, rõ ràng cách làm việc của bộ máy chính quyền các cấp. Hồ Quý Ly đặt lệ cử các quan ở triều đình 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về các lộ thăm hỏi đời sống nhân dân và tìm hiểu tình hình làm việc của quan lại để thăng hay giáng chức.
Về kinh tế tài chính, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy thay thế tiền đồng, ban hành chính sách hạn điền, quy định lại biểu thuế đinh, thuế ruộng. Về xã hội, Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn chế số nô tì được nuôi của các vương hầu, quý tộc, quan lại. Những năm có nạn đói, nhà Hồ lệnh cho các quan địa phương đi khám xét, bắt nhà giàu thừa thóc phải bán cho dân đói và tổ chức nơi chữa bệnh cho dân. Về văn hoá, giáo dục, Hồ Quý Ly bắt các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục, cho dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy cho vua Trần và phi tần, cung nữ.
Ông cũng sửa đổi cả chế độ thi cử, học tập. Về quân sự, để đề phòng giặc ngoại xâm, Hồ Quý Ly đã thực hiện một số biện pháp nhằm tăng cường củng cố quân sự và quốc phòng: làm lại sổ hộ để tăng quân số, sản xuất vũ khí, năm 1397 dời đô vào Thanh Hóa, cho xây thành Tây Đô ở An Tôn- Vĩnh Lộc- Thanh Hóa, thành Đa Bang ở Ba Vì- Hà Nội, sản xuất vũ khí, bố trí phòng thủ nơi hiểm yếu, thể hiện kiên quyết bảo vệ Tổ quốc. Cuộc khủng hoảng xã hội nhà Trần vào nửa sau thế kỷ XIV đã thể hiện tính chất lỗi thời của cấu trúc nhà nước đương thời. Trong bối cảnh đó Hồ Quý Ly là người đã từng bước tiến lên nắm mọi quyền hành trong triều đình.
Ông đã mong muốn cứu vãn tình thế đặc biệt khó khăn và phức tạp đó. Hồ Quý Ly đã kiên quyết thực hiện cải cách. Có thể thấy rằng đó là một cuộc cải cách toàn diện, từ kinh tế- chính trị, đến tài chính, văn hoá, giáo dục, xã hội. Thông qua cuộc cải cách, Hồ Quý Ly đã xoá bỏ đặc quyền và thế lực của tầng lớp quý tộc họ Trần, xây dựng nhà nước quan liêu, quyền lực tập trung, để giải quyết khó khăn trong nước và chống giặc Minh xâm lược từ bên ngoài.
23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên Hồ Qúy Ly cũng là một con người có nhiều thủ đoạn độc đoán mất lòng dân, duy ý chí. Sau khi củng cố được thế lực, Hồ Quý Ly tiến hành các âm mưu sát hại các quan lại và quý tộc tôn thất triều Trần. Trong hội thề Đồn Sơn (1399), 370 quý tộc nhà Trần, đứng đầu là Trần Khát Chân đã âm mưu giết Hồ Quý Ly nhưng âm mưu không thành tất cả bị Hồ Quý Ly giết hại đã gây ra sự mất đoàn kết nghiêm trọng trong nội bộ giới cầm quyền. Mặt khác cuộc cải cách có chỗ quá mạnh so với thời điểm lúc đó (phép hạn điền), chưa triệt để (gia nô và nô tì không được giải phóng), chính sách tiền tệ nhằm thu lại và hạn chế việc sử dụng tiền đồng để tập trung lượng đồng cần thiết phục vụ quốc phòng là nhu cầu bức thiết nhưng lưu hành tiền giấy là việc làm không đáp ứng đúng thực tiễn phát triển của lịch sử xã hội.
Cải cách văn hoá, giáo dục có ý nghĩa tiến bộ và đầy đủ hơn… Như vậy, công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly không giải quyết được căn bản những khủng hoảng trầm trọng của xã hội lúc bấy giờ, mà còn gây ra những chia rẽ nội bộ sâu sắc, xung đột lợi ích với nhóm quý tộc họ Trần hình thành thế thù trong giặc ngoài, càng tạo điều kiện cho quyết tâm xâm lược Đại Ngu của giặc Minh. Giặc Minh xâm lược Đại Ngu Năm 1406, lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi của nhà Trần, nhà Minh huy động một lực lượng lớn gồm 20 vạn bộ binh và thuỷ binh cùng với hàng chục vạn dân phu vận chuyển, dưới quyền chỉ huy của Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Trần Húc kéo vào xâm lược Đại Ngu. Chỉ sau sáu tháng, do đường lối chiến lược và chiến thuật sai lầm, cuộc kháng chiến của nhà Hồ đã bị thất bại thảm hại. Sự thất bại đó còn do triều đại nhà Hồ thiếu một cơ sở chính trị vững chắc, mâu thuẫn nội bộ cũng như mâu thuẫn xã hội đang gay gắt, không xây dựng được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân tộc để 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả nước cùng đánh giặc.
Từ đó, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh trong hơn 20 năm (1406-1427). Sau khi chiếm được nước ta, quan lại nhà Minh theo lệnh của Minh Thành Tổ- Chu Đệ thi hành triệt để chính sách cướp bóc tài sản, vơ vét của cải của nhân dân ta… chúng cưỡng bức dân ta đi khai thác vàng, bạc, mò ngọc trai dưới biển, khai thác lâm thổ sản, các hương liệu quý, đi lao dịch. Nhiều người còn bị bắt làm nô tỳ, hoặc bị bắt đưa về Trung Quốc, phục dịch bọn quan lại nhà Minh.