phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng 8 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ GIÁO DỤC 1.1 Cơ sở thực tiễn của việc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục 1.1 Thực trạng Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong trào lƣu xâm lƣợc thuộc địa của chủ nghĩa tƣ bản phƣơng Tây, từ năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau khi đánh chiếm đƣợc nƣớc ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cƣớp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa. Về kinh tế - xã hội: Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chƣơng trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), tiến hành chƣơng trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dƣơng với số vốn đầu tƣ trên quy mô lớn, tốc độ nhanh.
Do sự du nhập của phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đ i: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cƣ dân mới. Nhƣng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa vào nƣớc ta, mà vẫn duy trì các quan hệ kinh tế của chế độ phong kiến. Chúng kết hợp hai phƣơng thức bóc lột tƣ bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nƣớc Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tƣ bản một cách bình thƣờng đƣợc, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.
Về chính trị, Pháp tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề. Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngƣời Pháp, từ toàn quyền Đông Dƣơng, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án.; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Chúng tiếp tục thi hành chính sách chia để trị rất thâm độc, chia nƣớc ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với nƣớc Lào và nƣớc Campuchia để lập ra liên bang Đông Dƣơng thuộc Pháp, xóa tên nƣớc ta trên bản đồ thế giới.
Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phƣơng, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dƣơng. Về văn hóa, Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti,vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục. Mọi hoạt động yêu nƣớc của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bƣng bít và ngăn chặn ảnh hƣởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị.
Nhƣ vậy, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX chứa đựng nhiều biến động căn bản trên nhiều phƣơng diện: kinh tế, lịch sử, xã hội, văn hóa. Pháp khai thác triệt để nguồn tài nguyên của chúng ta và để dễ bề cai trị, chúng còn thi hành một chính sách ngu dân về giáo dục hết sức thâm độc và tàn bạo nhằm thực hiện mục đích của mình. Đế quốc chiếm thuộc địa bao giờ cũng nêu lên cái chiêu bài lừa bịp là đi khai hóa những dân tộc lạc hậu. Nhƣng mọi ngƣời đều hiểu rằng mục đích chính của chúng là vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân dân thuộc địa đến tận xƣơng tủy.
Bọn chúng không mở mang giáo dục ở các nƣớc thuộc địa, vì chúng sợ nhân dân bản xứ mà có học thì họ sẽ thấy rõ sự áp bức của chúng và sẽ kịch liệt chống lại cái ách thống trị tàn bạo của chúng. Trong một công văn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mật, đề ngày 1-3-1899, một tên thống sứ Bắc kỳ đã nói với tên toàn quyền Đông Dƣơng rằng: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột” [47;10] Hồ Chí Minh trong nhiều tác phẩm của mình đã nhiều lần vạch rõ bản chất tội ác cũng nhƣ lên án chính sách ngu dân của thực dân Pháp: “Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học và lúc nào cũng chật ních. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và có khi bị giết mà không cần xét xử…Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có.
Chúng tôi không có quyền sống hoặc đi du lịch ở nước ngoài, chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập” [18; 34, 35] “May mắn thay! tuy chúng tôi thiếu trường học, nhưng nước Pháp đã ban cho chúng tôi rất nhiều nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện và ty rượu “Để có thể đánh lừa dư luận bên chính quốc và yên ổn bóc lột người bản xứ, bọn cá mập của văn minh không những làm cho người Việt Nam ngu độn bằng rượu cồn và thuốc phiện, lại còn thi hành một chính sách ngu dân triệt để [19; 106] “Lúc đó có một nghìn năm trăm ty rượu và thuốc phiện cho một nghìn làng trong khi chỉ có mười trường học cũng cho bấy nhiêu làng. [18; 38] Ngƣời viết tiếp: “Ở Đông Dương nhân dân đòi trường học vì số trường học thiếu một cách nhơ nhuốc. Mỗi năm cứ đến ngày khai trường, cha mẹ phải đến gõ mọi cửa, xin xỏ mọi kẻ có thế lực, có khi chịu trả gấp đôi tiền ăn học, thế mà cũng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không tìm được chỗ nào cho con vào học. Và hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì không có trường” [19; 107] Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ dân tộc Việt Nam ta rất hiếu học, nhƣng khi ngƣời Pháp đến đã làm thay đ i tất cả, chúng làm cho nhân dân ta không có điều kiện để học hành vì những chính sách thuế khóa nặng nề mà chúng áp đặt.
Mặt khác chúng: “Cố tâm hủy bỏ Hán học mà chúng thấy là nguy hiểm cho sự thống trị của chúng, vì chúng biết rằng Hán học có thể đưa vào An Nam những tư tưởng tiến bộ Phương Tây thông qua Trung Quốc và Nhật Bản” [18; 423] với thâm ý sẽ đƣa nhân dân ta vào vòng ngu tối. Và để thay thế vào một nền giáo dục đã phần nào đáp ứng đƣợc cái “nhiệt tình ham muốn có học thức của dân tộc Việt nam” [17; 73], bọn thực dân chỉ mở một số trƣờng tối thiểu mà mục đích: “không phải để giáo dục cho thanh niên Việt Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm. Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tùy phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược, người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng trung thực giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu Tổ Quốc không phải Tổ Quốc mình, một Tổ Quốc đã từng áp bức dân tộc mình. Hấp thụ nền giáo dục ấy, thanh thiếu niên trở lại khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống mình và trở nên ngu ngốc thêm” [18; 424] Trong nền giáo dục của thực dân “điều gì có thể rèn luyện được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thì người ta không dạy ở nhà trường, Vấn đề nào có liên quan đến chính trị xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi.
Có học lịch sử nước Pháp đi nữa thì người ta không hề đả động đến chương nói về cách mạng. Người ta cấm học sinh đọc tác phẩm của Huy-gô, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ. Nói tóm lại trường học thật là tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó” [18; 424, 425]. Chính vì thực dân sợ những tƣ tƣởng tiến bộ, nên chúng không muốn cho thanh niên Việt Nam đi du học ở nƣớc ngoài, kể cả ở nƣớc Pháp: “Người Việt Nam nào có ý định đi du học nước ngoài thì sẽ bị coi như một người nổi loạn, một người chống Pháp, có tội lớn, người ta hãm hại người đó và cả gia đình họ.
An-be Xa-rô, nguyên toàn quyền Đông Dương, nay là Bộ trưởng bộ thuộc địa, đã nói rõ chính sách bao vây tinh thần ấy bằng những lời lẽ sau đây: “Để cho lớp thượng lưu trí thức được đào tạo ở nước ngoài thoát khỏi vòng kiêm tỏa của chúng ta, chịu ảnh hưởng văn hóa và chính trị của nước khác, thì thật là một điều nguy hiểm vô cùng. Những người trí thức đó trở về nước đã đưa hết tài năng của họ để tuyên truyền vận động chống lại chúng ta là những người bảo hộ đã ngăn cấm không cho họ học tập” [19; 426]. Để hạn chế việc thanh niên nƣớc ta sang Pháp học tập, bọn thực dân đã đặt ra nhiều điều lệ khe khắt, nhƣ điều 500b trong nghị đinh ngày 20-6-1921 về học chính ở Đông Dƣơng mà Hồ Chí Minh đã vạch ra trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”: “Người bản xứ nào vô luận là dân thuộc địa hay dân bảo hộ, muốn sang chính quốc tiếp tục học tập đều phải được ông toàn quyền cho phép” [19; 108]. Mà đƣợc phép của toàn quyền có phải là một việc dễ dàng đâu.
“Nếu vì trường hợp đặc biệt, một thanh niên nào được phép sang học ở bên Pháp thì chính phủ Pháp cố đưa du học sinh Việt Nam vào học ở những trường phản động nhất.