Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng nguyên tắc này trong giảng dạy lý luận chính trị. Chương 2: Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường Cao đẳng Kỹ thuật (qua thực tế tỉnh Hà Nam) - Thực trạng và giải pháp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NÀY TRONG GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 1. Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị 1.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 1. Phạm trù thực tiễn và phạm trù lý luận * Phạm trù thực tiễn Trước khi triết học Mác ra đời thì chưa một đại biểu triết học nào hiểu được bản chất của thực tiễn cũng như vai trò của nó đối với nhận thức, lý luận. Ở thời kỳ cận đại, Điđơrô - nhà triết học duy vật người Pháp đã đồng nhất hoạt động thực nghiệm khoa học với hoạt động thực tiễn. Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đủ.
Hêghen cho: giới tha hoá thành giới tự nhiên, xã hội, lịch sử, con người là thực tiễn - tức hoạt động có ý chí của ý niệm, hoạt động của tinh thần, như thế hoạt động tinh thần là hoạt động thực tiễn. Trong “Bút ký triết học” V.Lênin đã chỉ ra hết sức đúng rằng, “Đối với Hêghen, hành động, thực tiễn là một “suy lý-lô-gích, một hình tượng lô-gích” [22, tr. Suy lý lô-gích là hoạt động tư duy, hoạt động tinh thần nói chung. Do vậy, đây là quan niệm duy tâm về thực tiễn.
Phoiơbắc xem xét thực tiễn “trong hình thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó” [24, tr. Về thực chất Phoiơbắc chưa hiểu thực tiễn cũng như vai trò của thực tiễn nói chung và đối với nhận thức nói riêng. Ông chỉ đánh giá cao hoạt động lý luận, coi đó là hoạt động đích thực, chân chính của con người. Một số đại biểu của chủ nghĩa xét lại hiểu thực tiễn là hoạt động tự nhận thức có tính sáng tạo tự do.
Quan niệm này về thực chất là quan niệm duy tâm vì cho thực tiễn là hoạt động tự nhận thức - tức hoạt động tinh thần. Các nhà thực dụng Mỹ như S.Piếc-xơ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Dewey 1859-1952) cho thực tiễn là hành động của con người với tư cách là “vật” chịu sự tác động của hoàn cảnh và phản ứng lại hoàn cảnh, chứ không phải là hoạt động vật chất trực quan, cảm tính nhằm cải tạo hoàn cảnh. Như vậy, theo các nhà thực dụng Mỹ, tất cả những hoạt động phản ứng lại hoàn cảnh của con người đều được coi là thực tiễn. Từ đó, theo họ kích thích và phản ứng cũng là những nội dung cơ bản của thực tiễn.Jemes coi “kinh nghiệm” tôn giáo là thực tiễn, tức là hoạt động tinh thần thuần tuý.
Khắc phục những sai lầm, kế thừa những tư tưởng đúng đắn, hợp lý đồng thời dựa vào những thành tựu của khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng cùng với hoạt động của các ông trong phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đưa ra quan điểm đúng đắn về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Đây là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức macxit nói riêng và của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung. Theo Từ điển Triết học do nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva xuất bản năm 1986: “Thực tiễn - đó là hoạt động của con người nhằm đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển, và trước hết nó là quá trình khách quan của sản xuất vật chất - quá trình này là cơ sở của đời sống con người, đồng thời nó cũng là hoạt động cải tạo - cách mạng của các giai cấp và tất cả các hình thức hoạt động thực tiễn xã hội khác nhằm biến đổi thế giới. Thí nghiệm khoa học cũng là một trong những hình thức của thực tiễn” [43, tr.
Trong giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin của Bộ Giáo dục Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2009 thì “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”. Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Thực tiễn là hoạt động vật chất - là hoạt động mà chủ thể sử dụng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương tiện vật chất, công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất theo hình thức và mức độ khác nhau nhằm cải tạo chúng theo mục đích của mình. Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn của con người luôn mang tính lịch sử cụ thể, nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó, bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử cụ thể. Nó có quá trình hình thành, phát triển, kết thúc hoặc chuyển hóa sang giai đoạn khác. Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tượng, phương tiện và mục đích hoạt động. Hoạt động thực tiễn phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm người, nhưng không thể tách rời các quan hệ xã hội.
Xã hội quy định mục đích, đối tượng, phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn, do vậy, hoạt động thực tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc. Hoạt động thực tiễn là hoạt động mang tính tất yếu, nhưng là tất yếu có ý thức của con người. Đó là sự ý thức về phương pháp, ý thức về đối tượng, nhất là sự ý thức về mục đích của quá trình hoạt động. Hoạt động thực tiễn rất đa dạng và phong phú, song có thể chia làm ba hình thức cơ bản: Hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực tiếp tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của con người trực tiếp tác động vào xã hội, cải biến các quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ. Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các nhà khoa học tác động làm cải biến những đối tượng nhất định trong một điều kiện nhất định và theo một mục đích nhật định. Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định vì nó là cơ sở cho các hoạt động khác.
Các hình thức hoạt động của thực tiễn tuy có sự khác nhau nhưng chúng thống nhất, có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích, chúng bổ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trợ, ảnh hưởng lẫn nhau, do đó sự phân biệt giữa các hình thức hoạt động thực tiễn chỉ mang tính tương đối. * Phạm trù lý luận Trong Từ điển Triết học do nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva xuất bản năm 1986 định nghĩa: “Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ những tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgíc khách quan của các khái niệm lôgíc khách quan của các sự vật” [43, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong lịch sử” [30, tr. Lý luận chính là một cấp độ cao của quá trình nhận thức của con người, dựa trên trình độ, kết quả thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức, có thể phân chia thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận.
Đây là những tri thức khác nhau về đối tượng, tính chất, chức năng, hình thức và trình độ phản ánh cũng khác nhau. Tri thức kinh nghiệm là những tri thức được chủ thể thu nhận từ sự quan sát trực tiếp sự lặp đi, lặp lại diễn biến của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học. Loại tri thức này có hai loại: tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm thông thường thu được thông quá quá trình sinh hoạt và hoạt động hàng ngày của con người, nó giúp con người giải quyết nhanh một số vấn đề đơn giản, cụ thể trong quá trình tác động trực tiếp với đối tượng.
Tri thức kinh ghiệm khoa học là kết quả của quá trình thực nghiệm khoa học, nó đòi hỏi chủ thể phải tích lũy một lượng tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng như hoạt động khoa học. Có thể thấy tri thức kinh nghiệm mới chỉ mang lại những tri thức bên ngoài, chưa phải là bản chất của sự vật, hiện 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng, tri thức đó có thể đúng ở hoàn cảnh này nhưng chưa chắc đúng ở hoàn cảnh khác. Đây là những tri thức riêng lẻ, rời rạc về vẻ bề ngoài sự vật do vậy ở trình độ tri thức kinh nghiệm tri thức chưa thể nắm được mối liên hệ bản chất, tất yếu, bên trong của sự vật, hiện tượng dẫn đến độ chính xác, tin cậy chưa cao. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm cũng có vai trò hết sức quan trọng, cần thiết, giúp con người có thể điều chỉnh những hoạt động của mình, đưa ra những quyết định, hành động kịp thời trong những hoàn cảnh nhất định, góp phần mang lại hiệu quả trong nhiều hoàn cảnh.
Đồng thời tri thức kinh nghiệm còn là cơ sở để hình thành nên tri thức lý luận. Tri thức lý luận là tri thức phản ánh gián tiếp, khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng. Tri thức lý luận có những cấp độ khác nhau tuỳ phạm vi phản ánh và vai trò phương pháp luận của nó. Có thể chia tri thức lý luận thành tri thức lý luận ngành và tri thức lý luận triết học.
Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng thuộc một ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận cho hoạt động của ngành đó.