Chương 1: Lê Tràng Kiều - Cuộc đời và sự nghiệp Chương II: Quan niệm văn học của Lê Tràng Kiều Chương III: Lê Tràng Kiều - nhà phê bình thơ mới đầu tiên 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I LÊ TRÀNG KIỀU – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1. BỐI CẢNH THỜI ĐẠI Cuộc đời văn chƣơng của Lê Tràng Kiều gắn với một bối cảnh lịch sử văn hoá khá đặc biệt trong tiến trình lịch sử dân tộc nói chung và tiến trình văn học nói riêng. Đó chính là giai đoạn 1930-1945. Về mặt chính trị xã hội đây là thời kỳ đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt, là thời kỳ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ sắp đến ngày cáo chung trên bán đảo Đông Dƣơng.
Thực dân Pháp ngày càng phơi trần bộ mặt thâm hiểm và tàn bạo. Còn phát xít Nhật thì nuôi tham vọng làm bá chủ vùng Châu Á- Thái Bình Dƣơng. Nhƣng từ năm 1930, dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dƣơng phong trào công nhân và phong trào yêu nƣớc khác nhƣ những đợt sóng thần ngày một dâng cao lên liên tiếp đập vào thành luỹ của bọn cƣớp nƣớc và bán nƣớc. Khủng bố trắng 1930-1931 chỉ có thể làm cho phong trào tạm thời lắng xuống chứ chƣa thể dập tắt đƣợc phong trào cách mạng ngày càng bùng nổ dữ dội.
Về mặt văn hoá, phải kể đến vai trò của báo chí đối với sự phát triển của xã hội nói chung và văn học nói riêng. Từ năm 1865 báo chí bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Hình thức đầu tiên của báo chí là công báo, phục vụ cho công cuộc viễn chinh của ngƣời Pháp. Phải đến đầu thế kỷ XX, sau phong trào Đông Kinh nghĩa thục vào phong trào 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Duy Tân thì ngƣời Việt mới chính thức chấp nhận báo chí nhƣ một phần thiết yếu trong đời sống văn hoá xã hội.
Từ năm 1905 trở đi bắt đầu xuất hiện các tờ báo của ngƣời Việt phục vụ nhu cầu văn hoá của ngƣời Việt. Báo chí trở thành cái nôi đầu tiên nuôi dƣỡng và đỡ đầu cho một nền văn học mới. Nhƣng nếu trƣớc năm 1930 báo chí chủ yếu giúp độc giả làm quen với chữ Quốc ngữ và văn hoá phuơng Tây thì sau đó báo chí đã góp phần to lớn trong việc kích thích không khí sáng tác và không khí tiếp nhận dòng văn học mới. Theo Phạm Thế Ngũ, từ năm 1932 đến năm 1935 có đến 27 tờ báo đƣợc phép ra đời.
Hơn nữa do phong trào đấu tranh của quần chúng trong nƣớc và dƣ luận tiến bộ Pháp, bọn thực dân ở Đông Dƣơng phải ra lệnh bãi bỏ Ty kiểm duyệt Nam báo ở Trung kỳ từ ngày1 tháng 1 năm 1935. Vào năm 1936, ở Pháp, mặt trận Bình dân thắng thế nên chính sách cai trị của thực dân Pháp ở thuộc địa có phần đƣợc nới lỏng hơn trƣớc. Báo chí đƣợc tự do phát triển và cũng không ngừng ra tăng về số lƣợng, đổi mới về chất lƣợng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng. Hầu nhƣ trên các báo đều có mục giới thiệu văn học thƣờng xuyên nhƣ văn tuyển, điểm sách, tin văn, giới thiệu sách mới, sƣu tầm văn học, giới thiệu truyện ngắn và tiểu thuyết đăng nhiều kỳ.
Báo chí chính là diễn đàn để các trí thức Việt Nam trao đổi các vấn đề văn hoá, ngôn ngữ, nghệ thuật, văn chƣơng.Đồng thời là nơi tạo ra không khí kích thích sự sáng tạo, sự thể nghiệm và những tìm tòi học hỏi của nhà văn trên con đƣờng cầm bút. Nhƣ thế báo chí đã dần dần trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đƣợc của quần chúng ở đô thị và những ngƣời có học ở nông thôn. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc ra đời và phát triển rầm rộ của báo chí kéo theo việc xuất hiện hàng loạt các nhóm phái. Họ tập hợp nhau lại và dùng báo chí làm cơ quan ngôn luận cho mình nhƣ Tự lực văn đoàn có báo Phong hoá, Ngày nay, nhóm Tân dân có Tạp chí Tao đàn và Tiểu thuyết thứ bảy.
Văn phái Phương Đông của Hoài Thanh, Lƣu Trọng Lƣu và Lê Tràng Kiều tuy không có một tờ báo riêng làm cơ quan ngôn luận cho mình nhƣng họ đã rất nhiều bài đăng trên các báo nhƣ Hà Nội báo, Phụ nữ tân văn, Tạp chí Tao Đàn, Tiểu thuyết thứ Bảy. Báo chí trở thành diễn đàn cho nhiều hoạt động xã hội, văn hoá và nghệ thuật. Liên tục từ đầu những năm 30 đến cuối thập kỷ này, nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra trên báo chí, lôi cuốn sự tham gia của nhiều cây bút lý luận, có tiếng vang rộng rãi và thu hút sự quan tâm chú ý của bạn đọc nhƣ Tranh luận về Quốc học(1924-1941), Tranh luận về Truyện Kiều( 1924-1944), Tranh luận về duy tâm duy vật( 1933-1939), Tranh luận về thơ cũ thơ mới(1932-1942), Tranh luận về nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh(1933- 1939), Tranh luận về dâm hay không dâm trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng( 1935-1939). Các nhóm phái đã công khai bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình trên báo chí và đấu tranh quyết liệt để bảo vệ quan niệm ấy.
Lê Tràng Kiều là ngƣời viết văn, làm báo nên không thể bỏ qua không khí học thuật đang diễn ra sôi nổi trên khắp văn đàn lúc bấy giờ. Ông cũng bắt đầu cho đăng các bài báo lẻ trên báo Văn học tạp chí từ những năm 1930, 1931 và thực sự có những đóng góp đáng kể cho văn học nƣớc nhà là từ những năm 1935, 1936 khi ông làm chủ bút tờ Hà Nội báo.VÀI NÉT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do hoàn cảnh lịch sử và đặc thù về tƣ duy, trong quá khứ của nền văn hoá văn nghệ dân tộc, Việt Nam chƣa có bề dày truyền thống trƣớc tác, lập thuyết về mỹ học, lý luận văn học nghệ thuật. Do đó Việt Nam có một nền thơ ca khá phong phú song lại chƣa có một nền lý luận phê bình văn học có bề dày. Điều này càng đúng hơn với thời kỳ văn học trung đại của nƣớc ta.
Trong suốt 10 thế kỷ của văn học Việt Nam Trung đại, các văn nhân chỉ chú trọng sáng tác thơ văn bằng chữ Hán, chữ Nôm, thảng hoặc mới để tâm phát biểu qua thƣ từ trao đổi, đề từ và lời dẫn tác phẩm, thể lệ biên tập, lời tựa, lời bàn, lời bạt…Trong đó đột xuất có những hạt nhân tƣ tƣởng lý luận sâu sắc thể hiện sự minh triết của tƣ duy, sự am tƣờng về lao động nghề viết. Nhƣng chƣa thể nói đó là những công trình lý luận có tính hệ thống. Bởi sự thật lý luận văn học là từ thực tiễn sáng tác văn học mà ra, nhƣng là hai chuyện khác nhau. Chỉ khi nào cái sau dần tự ý thức thì mới thành ra cái trƣớc.
Từ thực tế phong phú và phức tạp của văn học, muốn nâng lên thành lý luận, phải có một bƣớc chuyển hoá- nếu không muốn nói là nhảy vọt trong tƣ duy. Lịch sử sáng tác văn học và lịch sử lý luận (hay quan niệm văn học) do đó là hai việc khác nhau. Sang đầu thế kỷ XX song song với cuộc vận động do các sĩ phu yêu nƣớc chủ xƣớng nhằm đổi mới tƣ duy và canh tân đất nƣớc, chấn hƣng các mặt của đời sống văn hoá xã hội, đƣa Việt Nam tiến kịp cùng trào lƣu của thế giới hiện đại, thì yêu cầu xây dựng một nền quốc học, một nền văn học Việt Nam hiện đại đƣợc đặt ra một cách bức thiết. Một thể tài mới của văn chƣơng hiện đại đó là văn nghị luận, văn lý luận phê bình đã ra đời cùng với sự nảy nở của các thể tài sáng tác mới ( nhƣ thơ mới, tiểu thuyết hiện đại, kịch nói) và dịch văn học.
Nói nhƣ nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan thì “kể từ ngày tiếp xúc với văn minh, học thuật Pháp, tư tưởng phái trí thức nước ta thay đổi nhiều, các học thuyết mới, các tư trào mới dần dần tràn vào xứ ta. Các phương pháp mới cũng được các độc giả ứng dụng. Các thể văn cũ biến đi, các thể văn mới (tiểu thuyết, phê bình, kịch) được các nhà trước tác viết theo.Dân tộc ta cũng sẽ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biết tìm thấy trong nền văn học nước Pháp những điều sở trường để bổ khuyết cho những thiếu thốn của mình.mà làm cho cái tinh thần của dân tộc mình được mạnh lên để gây lấy một nền văn học vừa hợp với cái hoàn cảnh hiện thời vừa giữ được cái cốt cách cổ truyền” Có thể nói so với trung đại thì đây rõ ràng là một thời kỳ thay da đổi thịt có tích chất cách mạng của lý luận, phê bình. Theo nhiều khuynh hƣớng và cách thức khác nhau, những bài viết, công trình đã xuất hiện, lực lƣợng tham gia ngày một đông đảo (bao gồm các cả các nhà tân học và cựu học) và ngày càng phong phú hơn về quan điểm.
Hoạt động lý luận phê bình ngày càng đƣợc dân chủ hoá và hiện đại hoá, gắn liền với các tên tuổi nổi bật nhƣ Phan Kế Bính, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Kỷ, Phan Khôi, Ngô Tất Tố, Thiếu Sơn, Hải Triều, Hoài Thanh.Các bài viết, các công trình hƣớng về xây dựng một nền văn hoá văn nghệ có tính cách dân tộc và hiện đại. Mặc dù chƣa có những thành tựu thật xuất sắc song qua đây bƣớc khởi động của tiến trình hiện đại hoá ở phƣơng diện này đã thể hiện rõ nét, góp phần tạo ra một không khí học thuật sôi nổi chƣa từng có so với các thời kỳ trƣớc. Văn lý luận phê bình ra đời đã đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển đồng bộ của quá trình hiện đại hoá văn học. Nó nhằm định hƣớng những cơ sở tƣ tƣởng, lý thuyết cho thực tiễn sáng tác vận động theo khuynh hƣớng mới, đấu tranh, khẳng định và ghi nhận những thành tựu sáng tác tiêu biểu trên con đƣờng xây dựng nền văn hoá dân tộc trong thời đại lịch sử mới.
Giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn nở rộ của lý luận phê bình báo chí. Từ năm 1933 trong sinh hoạt văn học xuất hiện một loạt các bài viết mang rõ tính chất luận chiến với nhiều quan điểm mới lạ. Đặc biệt vào đầu năm 1935, khi cuộc tranh luận Nghệ thuật vị nghệ và Nghệ thuật vị nhân sinh khởi tranh, Hoài Thanh nhanh chóng trở thành vị thủ lĩnh của phái Nghệ thuật vị nghệ thuật. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.