Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương Mại tại TP Cần Thơ - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Thảo luận và gợi ý chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Với sự phát triển phức tạp của thị trường tài chính thế giới, NHTM không chỉ thực hiện huy động và cho vay, mà còn cung cấp dịch vụ ngân hàng và sản phẩm tài chính nhằm tối đa hóa lợi ích khách hàng. Basel III cho rằng NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với đặc trưng nổi bật là vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng và các loại rủi ro luôn luôn tiềm ẩn. Tại Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng (2010) định nghĩa NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và dịch vụ thanh toán.
Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế, do vậy hoạt động của ngân hàng là kênh cung cấp tín dụng và dịch vụ chất lượng cao cho toàn xã hội. Khi một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng, có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống; khi hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng sẽ kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế xã hội. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Bản chất hoạt động ngân hàng có một số đặc trưng riêng như: (i) tính cạnh tranh cao về thị phần, sản phẩm, chính sách chăm sóc khách hàng, (ii) hoạt động ngân hàng có tác động rất lớn đến nền kinh tế vĩ mô, (iii) hoạt động ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố nội tại mà còn phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bên ngoài ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ tầng cơ sở. Sự khiếm khuyết của các yếu tố thương trường sẽ là rủi ro cho các ngân hàng cạnh tranh bằng các thủ pháp mạo hiểm.
Chính những đặc trưng này, NHTM phải thường xuyên tự đánh giá hiệu quả hoạt động của mình, có các biện pháp hoàn thiện, củng cố, nâng cao hơn hiệu quả, nhất là trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố tác động đến hiệu quả ngân hàng thương mại Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Trên cơ sở mô hình CAMELS, bao gồm yếu tố an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy), chất lượng tài sản (Asset Quality), khả năng quản lý (Management Quality), thu nhập (Earnings Ability), thanh khoản (Liquidity) và mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to Market Risk), luận văn trình bày các yếu tố chính tác động đến hiệu quả NHTM: Thứ nhất, về năng lực tài chính: năng lực tài chính của một ngân hàng thường biểu hiện qua các mặt: Khả năng tăng nguồn vốn chủ sở hữu, khả năng sinh lời, khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro.
Thứ hai, khả năng sinh lời thể hiện tính hiệu quả của đồng vốn kinh doanh: thu nhập lãi, thu nhập phi lãi. Thứ ba, chất lượng tài sản của ngân hàng được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu, được xác định bằng tỷ trọng số nợ xấu trong tổng dư nợ cấp tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ này cao sẽ khiến cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng giảm (do phải tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro). Ngoài tỷ lệ nợ xấu, chất lượng tài sản của ngân hàng còn được thể hiện qua khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro như chỉ số trích lập dự phòng rủi ro.
Khi nợ xấu tăng lên thì trích lập dự phòng rủi ro cũng phải tăng lên để bù đắp rủi ro, khi đó cần tính đến khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra. Ngược lại, nợ xấu tăng (hoặc không tăng) nhưng dự phòng không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính yếu kém và năng lực bù đắp khả năng tổn thất bị hạn chế. Thứ tư, năng lực hoạt động thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị phần về huy động vốn, về tín dụng và đầu tư, về các dịch vụ khác của NHTM trong quá trình cạnh tranh. Điều này được thể hiện qua khả năng huy động vốn.
Bởi vì, nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của NHTM. Năng lực huy động vốn quyết định tới quy mô kinh doanh. Nếu ngân hàng nào không cạnh tranh được với các ngân hàng về khả năng huy động vốn thì nguy cơ thu hẹp thị phần tín dụng đầu tư và dịch vụ là rõ ràng. Bên cạnh đó, khả năng hoạt động còn thể hiện qua khả năng cho vay và đầu tư.
Thứ năm, về thị phần. Một cách chung chung, thị phần được đo lường bằng tỷ trọng tài sản của một ngân hàng trên tổng giá trị tài sản của thị trường ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thị phần càng lớn thì năng lực chi phối thị trường của ngân hàng càng lớn. Phân tích sâu hơn, thị phần được phân chia thành thị phần tín dụng, thị phần tiền gửi, thị phần bán lẻ, thị phần bán buôn.
Thí dụ, thị phần tín dụng là mức so sánh giữa tổng dư nợ của ngân hàng (hoặc nhóm ngân hàng) này với tổng dư nợ của toàn ngành ngân hàng. Tín dụng cho đến nay vẫn là hoạt động đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho các ngân hàng, nhất là các NHTM tại Việt Nam. Do vậy, gia tăng thị phần tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Thứ sáu, về năng lực quản trị điều hành của NHTM: Năng lực quản trị, điều hành của NHTM phụ thuộc trước hết vào bộ máy quản lý, trình độ con người, tính hữu hiệu của cơ chế điều hành.
Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đên hiệu quả NHTM có ý nghĩa quan trọng giúp các ngân hàng nâng cao nhận thức trong việc thường xuyên xem xét, đánh giá hiệu quả của ngân hàng mình để định vị, nhận diện những bất lợi, những lợi thế, cơ hội và thách thức so với các đối thủ khác. Từ đó, đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả của NHTM, qua đó, nâng cao lợi nhuận, gia tăng thị phần, cải thiện vị thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên địa bàn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và ổn định của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Lý thuyết đo lường hiệu quả đối với các ngân hàng thương mại 2. Sự ra đời của lý thuyết đo lường hiệu quả Kinh tế học vi mô truyền thống đã xây dựng các hàm sản xuất 1 như hàm chi phí, hàm lợi nhuận dựa trên các giả định về điều kiện sản xuất, các phương pháp phân phối chi phí, lợi nhuận để đạt kết quả đầu ra hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà sản xuất thành công trong việc giảm thiểu chi phí cần thiết nhằm đạt kết quả đầu ra lựa chọn để sản xuất (Subal C. Xuất phát từ những hạn chế trên, khái niệm biên (efficiency frotier) ra đời đã làm thay đổi nhận thức về đo lường hiệu quả. Một biên sản xuất được hiểu là các gói đầu vào tối thiểu cần thiết để sản xuất ra các đầu ra khác nhau hoặc sản xuất ra các đầu ra tối đa với các gói đầu vào nhất định. Cụ thể, một biên chi phí đặc trưng cho chi phí tối thiểu cần thiết để sản xuất một gói đầu ra nhất định với giá đầu vào và 1 Hàm sản xuất là mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố sản xuất mà doanh nghiệp sử dụng với những sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra, trong một đơn vị thời gian.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 công nghệ cho trước. Tương tự, một biên doanh thu đặc trưng cho tối đa hóa doanh thu từ một nhóm đầu vào nhất định với giá đầu ra và công nghệ được cho trước. Cuối cùng, khái niệm biên lợi nhuận đặc trưng cho việc tối đa hóa lợi nhuận từ hoạt động sản xuất với giá đầu ra và công nghệ được biết trước. Như vậy, nhà sản xuất hoạt động trong giới hạn biên chi phí, biên doanh thu, biên lợi nhuận được xem là đạt hiệu quả chi phí, hiệu quả doanh thu, hiệu quả lợi nhuận.
Lý thuyết về hiệu quả sản xuất bắt đầu vào những năm 1950 với các nghiên cứu của Koopmans (1951), Debreu (1951), và Shephard (1953). Koopmans định nghĩa hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency): Sản xuất được xem là hiệu quả khi và chỉ khi không thể sản xuất nhiều hơn sản phẩm đầu ra mà không làm giảm hiệu quả sản xuất sản phẩm đầu ra khác hoặc phải sử dụng thêm sản phẩm đầu vào. Debreu và Shephard đã đưa ra công thức khoảng cách (distance function) được xem như mô hình công nghệ nhiều đầu ra, đặt biệt là đề cập đến chức năng khoảng cách theo hướng mở rộng đầu ra (Debreu) hoặc cố định đầu vào (Shephard). Sự kết hợp của hai phương pháp tiếp cận này đặt tiền đề quan trọng trong phát triển phương pháp đo lường hiệu quả sản xuất.
Cho đến nay, dựa trên khung nghiên cứu cơ bản của Debreu (1951) và Farrell (1957), hiệu quả kinh tế của NHTM sẽ được tách ra thành các khái niệm hiệu quả gồm hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency), hiệu quả phân phối (allocative efficiency), hiệu quả theo quy mô (scale efficiency), hiệu quả nhờ quy mô (scope efficiency). Tùy theo mục đích đo lường hiệu quả kinh tế nhằm tối thiểu chi phí hoặc tối đa hóa lợi nhuận thì khái niệm đo lường hiệu quả kinh tế lần lượt được chọn là hiệu quả chi phí, hiệu quả lợi nhuận chuẩn, hiệu quả lợi nhuận thay thế. Các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả ngân hàng thương mại Trong vài thập kỹ qua có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA, DEA, TFA,.để đo lường hiệu quả NHTM. Berger và Humphrey (1997) đã thực hiện nghiên cứu lý thuyết trên nền tảng 130 nghiên cứu thực nghiệm tại 21 quốc gia, trong đó 5% nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện tại các nước đang phát triển.