Luận văn Thạc sĩ UEH: Nguyên nhân DNNVV khó tiếp cận tín dụng tại TP. Đông Hà

Luận văn thạc sĩ phân tích nguyên nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đông Hà khó tiếp cận tín dụng ngân hàng, cung cấp giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

53
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

1.2. Vấn đề nghiên cứu

1.3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp luận

1.6. Cấu trúc luận văn

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT LÝ THUYẾT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ NGUYÊN NHÂN KHÓ KHĂN TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG

2.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.2. Các nguyên nhân gây khó khăn cho DNNVV trong tiếp cận tín dụng

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN GÂY KHÓ KHĂN CHO DNNVV TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG

3.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội và DNNVV tại thành phố Đông Hà

3.2. Đặc điểm mẫu khảo sát

3.3. Phân tích nguyên nhân gây khó khăn cho DNNVV trong tiếp cận tín dụng

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Kết luận nguyên nhân gây khó khăn cho DNNVV trong tiếp cận tín dụng

4.2. Một số hạn chế của đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nguyên nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận tín dụng ngân hàng

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng việc tiếp cận tín dụng ngân hàng vẫn là một thách thức lớn. Tình hình này đặc biệt rõ ràng tại thành phố Đông Hà, nơi mà nhiều DNNVV gặp khó khăn trong việc vay vốn. Nguyên nhân của vấn đề này có thể xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả chính sách tín dụng của ngân hàng và tình hình kinh tế địa phương.

1.1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đông Hà

DNNVV tại Đông Hà thường có quy mô nhỏ, với số lượng lao động và vốn đầu tư hạn chế. Điều này khiến cho họ gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu tín dụng từ ngân hàng. Hơn nữa, sự thiếu hụt thông tin và minh bạch trong hoạt động kinh doanh cũng là một yếu tố cản trở.

1.2. Tình hình tín dụng ngân hàng tại thành phố Đông Hà

Ngân hàng tại Đông Hà thường có chính sách cho vay nghiêm ngặt, đặc biệt đối với DNNVV. Việc thiếu hụt thông tin và sự không đồng nhất trong quy trình thẩm định tín dụng đã dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp không thể tiếp cận được nguồn vốn cần thiết.

II. Những thách thức chính trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng

Các DNNVV tại Đông Hà phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng. Những thách thức này không chỉ đến từ phía ngân hàng mà còn từ chính bản thân các doanh nghiệp. Việc hiểu rõ những thách thức này là cần thiết để tìm ra giải pháp phù hợp.

2.1. Khó khăn từ phía ngân hàng

Ngân hàng thường yêu cầu các DNNVV cung cấp tài sản đảm bảo và thông tin tài chính rõ ràng. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp không có đủ tài sản hoặc không thể cung cấp thông tin đầy đủ, dẫn đến việc bị từ chối vay vốn.

2.2. Vấn đề từ phía doanh nghiệp

Nhiều DNNVV thiếu kinh nghiệm trong quản lý tài chính và không có hệ thống kế toán rõ ràng. Điều này làm cho ngân hàng khó khăn trong việc đánh giá khả năng trả nợ của họ, từ đó hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng.

III. Phương pháp cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng cho DNNVV

Để cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng cho DNNVV, cần có những phương pháp và chính sách cụ thể. Việc này không chỉ giúp doanh nghiệp phát triển mà còn thúc đẩy nền kinh tế địa phương.

3.1. Cải thiện chính sách tín dụng của ngân hàng

Ngân hàng cần xem xét lại các chính sách cho vay, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DNNVV. Việc đơn giản hóa thủ tục vay và giảm yêu cầu tài sản đảm bảo có thể giúp nhiều doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn.

3.2. Đào tạo và hỗ trợ doanh nghiệp

Cung cấp các khóa đào tạo về quản lý tài chính và kế toán cho DNNVV sẽ giúp họ nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng. Hỗ trợ từ các tổ chức chính phủ và phi chính phủ cũng rất quan trọng trong việc này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tín dụng ngân hàng

Nghiên cứu về khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV tại Đông Hà đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Việc áp dụng các giải pháp đã đề xuất có thể mang lại kết quả tích cực cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.

4.1. Kết quả từ các cuộc khảo sát

Các cuộc khảo sát cho thấy rằng nhiều DNNVV vẫn chưa thể tiếp cận được tín dụng mặc dù có nhu cầu cao. Điều này cho thấy cần có sự thay đổi trong cách thức cho vay của ngân hàng.

4.2. Ứng dụng các giải pháp vào thực tiễn

Việc áp dụng các giải pháp như cải thiện quy trình thẩm định và hỗ trợ doanh nghiệp sẽ giúp tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng cho DNNVV, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế tại địa phương.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho DNNVV tại Đông Hà

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng cho DNNVV là rất cần thiết. Tương lai của các doanh nghiệp này phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ ngân hàng và chính phủ.

5.1. Tương lai của DNNVV tại Đông Hà

Nếu các chính sách hỗ trợ được thực hiện hiệu quả, DNNVV tại Đông Hà có thể phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần vào sự phát triển kinh tế của thành phố.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể từ chính phủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV trong việc tiếp cận tín dụng, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nguyên nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận tín dụng ngân hàng tình huống thành phố đông hà

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 giới thiệu về nghiên cứu trên đây, chương 2 tập trung khảo sát lý thuyết, trong đó nêu tổng quan DNNVV và nguyên nhân DNNVV khó tiếp cận tín dụng. Trong chương 3, luận văn tiến hành phân tích các dữ liệu thu thập được. Cuối cùng, chương 4 kết luận những nguyên nhân chính gây khó khăn cho DNNVV trong tiếp cận tín dụng và đưa ra các đề xuất chính sách dựa trên phân tích ở chương 3. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 2: KHẢO SÁT LÝ THUYẾT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ NGUYÊN NHÂN KHÓ KHĂN TRONG TIẾP CẬN TÍN DỤNG 2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, chiến lược, mục tiêu và định hướng của từng quốc gia riêng biệt, khái niệm DNNVV thường không đồng nhất.

Mặc dù có sự khác biệt nhất định, nhìn chung, khái niệm DNNVV có chung một số nội dung như sau: DNNVV là những cơ sở sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô DN giới hạn theo các tiêu thức như: Số lao động, tổng nguồn vốn, tổng tài sản hay doanh thu hàng năm, và các tiêu thức luôn thay đổi theo từng thời kỳ nhất định của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP (NĐ 56) về trợ giúp phát triển DNNVV (thay thế Nghị định 90/2001/NĐ-CP), DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa, theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) (Bảng 2. DNNVV bao gồm nhiều loại hình tổ chức DN: DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể. DNNVV có thể có nhiều loại hình sở hữu khác nhau như: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân hoặc có yếu tố sở hữu nước ngoài.

Tuy nhiên, khái niệm DNNVV sử dụng trong luận văn chỉ xét đến các DNNVV theo phân loại ở NĐ 56, thuộc sở hữu tư nhân trong nước được đăng ký theo Luật DN. Vì vậy, đối tượng DNNVV trong luận văn chỉ bao gồm các DNNVV thuộc các loại hình: DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. DN thuộc sở hữu Nhà nước và có yếu tố sở hữu nước ngoài không được xét đến, vì họ có những đặc điểm khác biệt so với DNNVV tư nhân trong nước trong tiếp cận tín dụng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Phân loại DNNVV DN siêu Quy mô DN nhỏ DN vừa nhỏ Số lao Tổng Tổng nguồn Khu vực Số lao động Số lao động động nguồn vốn vốn Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 I.

Nông, lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến 300 và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người tỷ đồng người Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến 300 xây dựng trở xuống trở xuống 200 người tỷ đồng người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng người đến 50 đồng đến 50 người đến 100 dịch vụ trở xuống trở xuống người tỷ đồng người Nguồn: Chính phủ (2009), Nghị định 56/2009/NĐ-CP 2.2 Các nguyên nhân gây khó khăn cho DNNVV trong tiếp cận tín dụng Tiếp cận tín dụng là nhân tố quan trọng đảm bảo cho DN đáp ứng được nhu cầu vốn phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển, việc tiếp cận tín dụng của các DN, đặc biệt là DNNVV gặp nhiều khó khăn.

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra 3 nhóm nhân tố chính cản trở việc tiếp cận tín dụng của các DNNVV ở các quốc gia đang phát triển, đó là:  Môi trường hoạt động của lĩnh vực tài chính: Bất ổn kinh tế vĩ mô; Hệ thống luật pháp liên quan đến tài sản đảm bảo (TSĐB) tín dụng yếu kém; Thông tin bất cân xứng; Hiệu quả của hệ thống NH thấp;  Các nhân tố đến từ phía cung tín dụng (các NH): NH thiếu hụt vốn trung - dài hạn để cho vay; Yếu kém của NH trong thẩm định các khoản vay; Thủ tục cho vay phức tạp;  Các nhân tố đến từ phía cầu tín dụng (yếu kém của DNNVV): Hệ thống kế toán tài chính thiếu tin cậy; Kỹ năng tài chính và kỹ năng quản lý của Chủ DN kém. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Môi trường hoạt động của lĩnh vực tài chính i. Bất ổn kinh tế vĩ mô: Bất ổn kinh tế vĩ mô là một cản trở nghiêm trọng việc tiếp cận tín dụng của DN5. Nguyên nhân do bất ổn kinh tế vĩ mô thường đi cùng với tỷ lệ lạm phát cao và tỷ giá hối đoái biến động lớn.

Điều này kéo theo lãi suất danh nghĩa tăng lên quá cao và thời hạn cho vay ngắn hơn, làm cho việc tiếp cận tín dụng của DNNVV trở nên cực kỳ tốn kém. Hệ thống luật pháp liên quan đến TSĐB tín dụng yếu kém: Ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, hầu hết các DN muốn xin vay vốn được yêu cầu thế chấp tài sản. Tuy nhiên, các DN thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu này vì họ thiếu tài sản đủ tính pháp lý để thế chấp6. Bên cạnh đó, khi xét về khía cạnh người cho vay đối với TSĐB, họ có thể bị nản chí nếu việc cưỡng chế thực hiện hợp đồng là một quá trình phức tạp và tốn kém thời gian.

Một hệ thống luật pháp tốt sẽ cho phép các NH dễ dàng thực hiện quyền của mình đối với các TSĐB, cho phép họ cam kết vào các dự án đầu tư cần thiết và mở rộng tín dụng mà không phải bận tâm về cưỡng chế thực hiện hợp đồng7. Thông tin bất cân xứng: Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại. Ở thị trường tài chính, thông tin bất cân xứng là một nhân tố quan trọng cản trở việc tiếp cận tín dụng. Các DN thường sở hữu các thông tin riêng về việc kinh doanh của họ mà các NH khó có thể tiếp cận được.

Điều này dẫn đến 2 vấn đề: Lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức. Lựa chọn ngược xảy ra trước khi cho vay, NH không có khả năng phân biệt được rủi ro của các dự án nên họ có thể tăng lãi suất, dẫn đến hiện tượng chỉ có các DN rủi ro cao vay được. Rủi ro đạo đức là trường hợp xảy ra sau khi NH cấp tín dụng cho DN, DN có thể sử dụng vốn không đúng mục đích trong hợp đồng vay8. Tóm lại, do thông tin bất cân 5 Boyd.; Levine và Smith (2001) 6 Fleisig; Safavian và De La Pena (2006) 7 Xu (2010).

8 Mishkin (1991) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 xứng, rủi ro của khoản vay khá cao nên NH sẽ tăng chi phí của việc vay mượn hoặc hạn chế cho vay. Hiệu quả của hệ thống NH thấp: Hiệu quả của hệ thống ngân hàng được đo bằng cấu trúc thị trường cạnh tranh và hạn chế sự can thiệp của Nhà nước. Sự tập trung cao (hay sự kém cạnh tranh) của hệ thống NH (bank concentration) làm hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của DN ở các quốc gia phát triển thấp. Thêm vào đó, việc Chính phủ can thiệp sâu vào ngành bằng việc có nhiều quy định hạn chế trong hoạt động NH sẽ làm trầm trọng thêm tác động trên9.2 Các nhân tố đến từ phía cung tín dụng (các NH) i.

Thiếu hụt vốn trung - dài hạn để cho vay: Để thực hiện các khoản đầu tư hiệu quả, các DN (đặc biệt trong ngành công nghiệp) rất cần các khoản vốn trung - dài hạn. Khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng trung - dài hạn giúp các DN phát triển nhanh hơn họ có thể có nếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có và tín dụng ngắn hạn10. Tuy nhiên, NH ở các quốc gia đang phát triển thường dựa vào nguồn vốn ngắn hạn (tiền gửi ngắn hạn) và để tránh việc bất cân xứng kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có, NH thường hạn chế cấp tín dụng trung - dài hạn cho các DN11. Yếu kém trong việc thẩm định các khoản vay: Việc các NH phân biệt đối xử với DNNVV có thể xuất phát từ yếu kém của họ trong việc thẩm định các khoản vay.

Công ty Tài chính quốc tế (IFC) khẳng định điều này khi cho rằng việc hạn chế tín dụng cho DNNVV, vì có ít nhân viên NH có khả năng và kinh nghiệm trong việc thẩm định và quản trị rủi ro các khoản vay12. Các NH thường tập trung vào các DN lớn nên nhân viên tín dụng thường chỉ được đào tạo để thẩm định và quản lý các khách hàng lớn với thông tin và báo cáo tài chính (BCTC) đầy đủ. Những kỹ thuật thẩm định cho 9 Beck; Demirguc-Kunt và Maksimovic (2004) 10 Caprio Jr và Demirguc‐Kunt (1998) 11 Bouri; Breij; Diop và đ.g (2011) 12 IFC (2003) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 DN lớn nếu được áp dụng cho DNNVV sẽ dẫn đến việc nhiều DNNVV không thể đáp ứng được những điều kiện của NH13. Thủ tục cho vay phức tạp: Thủ tục cho vay tại các NH có thể khá phức tạp, gây tốn kém thời gian và chi phí cho DNNVV.

DNNVV có thể phải cung cấp quá nhiều giấy tờ pháp lý, làm quá nhiều thủ tục rườm rà và phải chờ đợi trong thời gian dài để khoản vay được duyệt. Điều này làm DN có thể phải tốn chi phí lớn khi tiếp cận tín dụng và gây tâm lý e ngại khi họ có nhu cầu vay vốn14.3 Các nhân tố đến từ phía cầu tín dụng (DNNVV) i. Hệ thống kế toán tài chính thiếu tin cậy: Hệ thống kế toán tài chính tốt và đáng tin cậy là điều kiện cần thiết để các nhà đầu tư tài chính đầu tư vào DN. DN có BCTC được kiểm toán sẽ dễ dàng tiếp cận tín dụng hơn.

Tuy nhiên, các DNNVV thường không có các hệ thống kế toán cũng như các thông tin tài chính đáng tin cậy (đã được kiểm toán)15. Thêm vào đó, các DN này thường giữ hai đến ba sổ kế toán, gây khó khăn cho NH trong việc thẩm định rủi ro. Ví dụ như ở Trung Quốc, các DN thường có vài sổ kế toán phụ thuộc vào đối tượng được cho xem là ai16.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ