phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm 1.
Cạnh tranh Cạnh tranh trong kinh tế là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm cạnh tranh đƣợc sử dụng cho phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia và khu vực liên quốc gia. Ở các cấp độ khác nhau thì mục tiêu đƣợc đặt ra khác nhau. Đối với quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho ngƣời dân, còn đối với doanh nghiệp thì mục tiêu chủ yếu là tồn tại và kiếm lợi nhuận trong môi trƣờng cạnh tranh quốc gia hay quốc tế.
Các tác giả khác nhau với các tiếp cận khác nhau đã đƣa ra những khái niệm khác nhau. “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng” (P.Samuelson, 2000, trang 247) Theo Mác thì “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản với nhau để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” (Phạm Quang Phan và cộng sự, 2010, trang 120) “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi các quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất” (Từ điển Bách Khoa tập 1, 1996, trang 482) Các tác giả trong cuốn Các Vấn Đề Pháp Lý Về Thể Chế Và Chính Sách Cạnh Tranh Kiểm Soát Độc Quyền Kinh Doanh, Thuộc Dự Án VIE/97/016 cho rằng “ Cạnh tranh có thể đƣợc hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng, để đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh cụ thể” (Viện nghiên cứu Khoa học Ngân hàng, 2003, trang 165). Tại diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế (OECD) cho rằng “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (Bộ Kế hoạch và Đầu Tƣ, 2006, trang 124) Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra các điểm chung sau: Nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua lẫn nhau của nhiều chủ thể cùng tham dự nhằm giành lấy phần thắng về mình. Mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tƣợng cụ thể nào đó mà các chủ thể tham dự đều muốn giành giật nhƣ một cơ hội, một dự án…Mục đích cuối cùng là kiếm đƣợc lợi nhuận cao.
Cạnh tranh diễn ra trong một môi trƣờng cụ thể, có ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ nhƣ các điều kiện pháp lý… Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau để cạnh tranh nhƣ cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm, bằng chất lƣợng sản phẩm…. Với những điểm rút ra nêu trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp chiếm lĩnh thị trường, giành khách hàng và các điều kiện sản xuất có lợi nhất. Mục đích sau cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với các nhà sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với những người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi (Chu Văn Cấp, 2003) 1.
Năng lực cạnh tranh OECD đã đƣa ra một định nghĩa về năng lực cạnh tranh: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tƣơng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phƣơng, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Viện chiến lƣợc phát triển, 1999, trang 121). Năng lực cạnh tranh đƣợc xem xét dƣới các cấp độ khác nhau: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ… Ở cấp độ quốc gia, các tác giả đã đƣa ra các khái niệm về năng lực cạnh tranh nhƣ sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Porter thì “Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động” (Michael. Theo định nghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới: Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì đƣợc mức tăng trƣởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tƣơng đối và các đặc trƣng kinh tế khác (Viện nghiên cứu khoa học Ngân hàng, 2003, trang 75) Báo cáo về Đánh giá Năng lực Cạnh Tranh Toàn Cầu năm 2002, định nghĩa năng lực cạnh tranh đối với một quốc gia là: “Khả năng của nƣớc đó đạt đƣợc những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt các tỷ lệ tăng trƣởng kinh tế cao đƣợc xác định bằng thay đổi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu ngƣời theo thời gian” (Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005, trang 37). Từ những khái niệm nêu trên ta có thể hiểu : Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng nền kinh tế có thể tăng trƣởng bền vững trong khi thị trƣờng kinh tế thế giới biến động.
Ở cấp độ doanh nghiệp thì có một số khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhƣ sau: Theo Lý Thuyết Tổ Chức Công Nghiệp thì: Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp duy trì đƣợc vị thế trên thị trƣờng so với nhà sản xuất khác và Đƣa ra sản phẩm thay thế hoặc sản phẩm cùng loại với sản phẩm của doanh nghiệp khác nhƣng với mức giá thấp hơn. Hoặc cung cấp sản phẩm (dịch vụ) tƣơng tự với nhà cung cấp khác nhƣng có đặc tính về chất lƣợng ngang bằng hoặc cao hơn (Hà Thị Ngọc Oanh,2005) Theo quyển Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Điều Kiện Toàn Cầu Hóa : Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lƣợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững (Hà Thị Ngọc Oanh,2005) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Một định nghĩa khác về năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vƣợt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển chính bản thân doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ ,2006). Từ những định nghĩa trên ta có thể hiểu Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những yếu tố thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Tóm lại ta có thể hiểu một cách tổng quát, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể chống chọi với các lực lƣợng cạnh tranh trên thị trƣờng.
Theo mô hình 5 tác lực của Michael E.Porter có 5 lực lƣợng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành đó là: các đối thủ hiện tại, các đối thủ tiềm năng, ngƣời cung ứng, ngƣời mua, sản phẩm thay thế (Michael E.Porter, 1996) Ở cấp độ sản phẩm Năng lực cạnh tranh của hàng hóa là sức mạnh hoặc tính vƣợt trội của hàng hóa đó trên thị trƣờng, nó có thể thay thế hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác cung cấp để chiếm lấy vị trí thống lĩnh thị trƣờng tại cùng một thời điểm (Hà Thị Ngọc Oanh,2005). Theo Vũ Anh Tuấn (2004, trang 37-38), “Một sản phẩm đƣợc coi là có năng lực cạnh tranh và có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tƣơng tự với chất lƣợng hay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn”. Nhƣ vậy năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ đƣợc nhanh trong khi có nhiều ngƣời cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng thị trƣờng. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lƣợng của nó, giá cả, dịch vụ đi kèm, thƣơng hiệu, điều kiện mua bán… Ba cấp độ năng lực cạnh tranh trên có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau.
Mỗi nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia phải có nhiều doanh nghiệp có cạnh tranh, ngƣợc lại, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, môi trƣờng kinh doanh cho nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, nền kinh tế phải ổn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 định, bộ máy nhà nƣớc phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp. Lợi thế cạnh tranh “Lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty mà những năng lực phân biệt này đƣợc khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo giá trị cao cho khách hàng” (Nguyễn Hữu Lam và cộng sự, 1998, trang 28). Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm đƣợc hiểu là những thế mạnh mà sản phẩm có hoặc có thể huy động để đạt thắng lợi trong cạnh tranh (Vũ Anh Tuấn, 2004). Lợi thế cạnh tranh đƣợc hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thƣơng trƣờng quốc tế tạo ra một số ƣu thế vƣợt trội hơn, ƣu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Các hình thức canh tranh của Doanh nghiệp 1. Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh Có thể chia cạnh tranh làm 2 loại Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh có số ngƣời bán và ngƣời mua một mặt hàng rất nhiều, nhiều đến nỗi không ai có khả năng làm ảnh hƣờng để giá cả thị trƣờng, dù có gia nhập hay tháo lui khỏi thị trƣờng.