CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Tổng quan về cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh - Theo giáo sư Michael E.Porter của trường Đại học Harvard (1980)1: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. - Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng, giữa những người sản xuất với nhau để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Qua những quan điểm trên thì cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, giúp cho các chủ thể biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển. Qua đó, các chủ thể có thể xác định những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và tương lai, để đưa ra những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Như vậy, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể trong nền kinh tế thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình.
Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, uy tín thương hiệu,… Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng vì đây là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển và buộc nhà sản xuất hay nhà cung ứng SPDV phải (1) Michael E.Porter (1980), Competitive strategy, New York: Free press. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng CNTT, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển. Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở những hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Sự khác biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là một bên có mục đích bằng mọi cách tiêu diệt đối thủ để tạo vị thế độc quyền cho mình, một bên là dùng cách phục vụ khách hàng tốt nhất để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ của mình.2 Các loại hình cạnh tranh - Căn cứ vào chủ thể tham gia: * Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Do sự đối lập nhau của hai chủ thể tham gia giao dịch để xác định giá cả của hàng hóa cần giao dịch, sự cạnh tranh này diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt” và giá cả của hàng hóa được hình thành. Cạnh tranh giữa những người mua với nhau được hình thành trên quan hệ cung-cầu. Tuy nhiên, sự cạnh tranh này chỉ xảy ra trong điều kiện cung của một hàng hóa hoặc dịch vụ có chất lượng ít hơn nhu cầu của thị trường. * Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Đây là hình thức tồn tại nhiều nhất trên thị trường với tính chất gây go và khốc liệt.
Cạnh tranh này có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp nhằm chiếm thị phần và thu hút khách hàng. - Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: * Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Đây là hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó. Trong đó, các đối thủ tìm cách thôn tính lẫn nhau, giành khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường. Biện pháp cạnh tranh chủ yếu của hình thức này là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí.
Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành làm cho kỹ thuật phát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 thay đổi, giá trị hàng hóa được xác định lại, tỷ suất sinh lời giảm xuống và sẽ làm cho một số doanh nghiệp thành công và một số khác phá sản, hoặc sáp nhập. * Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnh tranh này hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua sự dịch chuyển giữa các ngành với nhau. - Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trường: * Cạnh tranh hoàn hảo: Là loại hình cạnh tranh mà ở đó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có thể khống chế thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả. Cạnh tranh hoàn hảo được giả định rằng: Tất cả các hàng hóa trao đổi được coi là giống nhau; Tất cả những người bán và người mua đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi; Không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua hay người bán.
Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác. * Cạnh tranh không hoàn hảo: Là một hình thức cạnh tranh khi các điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn. Các loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua. Trong thị trường cũng có thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc người mua thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi.3 Các công cụ cạnh tranh * Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ Ngày nay khi khoa học công nghệ phát triển ở trình độ cao, sản phẩm ra đời ngày càng đa dạng, tạo cho khách hàng nhiều sự lựa chọn và đặt các doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Để nâng cao vị thế, buộc các doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ cạnh tranh khác nhau trong chiến lược kinh doanh của mình. Một trong những công cụ được sử dụng phổ biến là “Chất lượng sản phẩm, dịch vụ”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm có chất lượng phải đáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng, đem lại cho khách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích. Do vậy, khi đánh giá một sản phẩm có chất lượng, khách hàng thường dựa vào các tiêu chí sau: - Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng SPDV ít và đơn giản.
- Tốc độ xử lý nhanh cùng với mức độ chính xác cao. - Đem đến nhiều lợi ích cho khách hàng. - Thái độ phục vụ tốt. - Trình độ cộng nghệ hiện đại.
* Cạnh tranh bằng giá Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, dịch vụ, giá cả có vai trò quan trọng đối với quyết định của khách hàng. Vì vậy, giá cả cần phải được xác định một cách hợp lý trên cơ sở cung cầu của thị trường về sản phẩm, dịch vụ cung cấp, nếu không sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như thị phần của doanh nghiệp. * Cạnh tranh qua hệ thống phân phối Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng, đồng thời giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời nhu cầu của khách hàng, nhằm chủ động hơn trong việc cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ của mình. Để cạnh tranh bằng hệ thống kênh phân phối doanh nghiệp phải thực hiện tốt chiến lược marketing kết hợp với tổ chức mạng lưới.
Nhằm tạo sự thuận tiện cho khách hàng ở khắp mọi nơi, doanh nghiệp cần có một mạng lưới rộng khắp ở các vùng kinh tế chiến lược trong nước, các vị trí thuận lợi ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới là cần thiết nhưng phải chọn nơi hội đủ điều kiện có lợi nếu không sẽ gây trở ngại về vốn cũng như nhân lực, tăng chi phí và giảm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để có thể cung cấp SPDV cho khách hàng một cách tốt nhất, doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược marketing bao gồm: Quảng bá thương hiệu; Tiếp thị và xúc tiến thương mại; Phát triển công nghệ và nghiệp vụ tiên tiến; Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh; Phát triển sản phẩm, dịch vụ gắn với phát triển thị trường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Để mở rộng thị phần bán lẻ, doanh nghiệp cần phát triển các hình thức phân phối cùng nhiều tiện ích như: - Kênh phân phối truyền thống, bao gồm: Hệ thống các chi nhánh và các đại lý - Kênh phân phối hiện đại, bao gồm: + Các chi nhánh tự động hóa hoàn toàn: Đặc điểm của kênh phân phối này là hoàn toàn do máy móc thực hiện, dưới sự điều khiển của các thiết bị điện tử.
+ Chi nhánh ít nhân viên: Ưu điểm của kênh phân phối này là chi phí thấp, hoạt động linh hoạt. * Cạnh tranh bằng uy tín thương hiệu Uy tín thương hiệu phản ảnh chất lượng sản phẩm, dịch vụ của một doanh nghiệp sẵn sàng cung ứng cho xã hội. Một thương hiệu nổi tiếng sẽ thu hút được nhiều khách hàng. Qua đó, doanh nghiệp có được nhiều khách hàng truyền thống và lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu cho phép doanh nghiệp có thể dự báo và kiểm soát thị trường.
Đồng thời uy tín thương hiệu sẽ tạo nên một rào cản vô hình, gây khó khăn cho các đối thủ khác khi muốn thâm nhập thị trường.2 Tổng quan về năng lực cạnh tranh 1.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael E.Porter Đối thủ tiềm ẩn Đe dọa của các đối thủ chưa xuất hiện Cạnh tranh Khách Nhà nội bộ ngành hàng cung cấp Quyền lực Cạnh tranh giữa các Quyền lực Nhà phân đàm phán doanh nghiệp đang có đàm phán phối mặt trên thị trường Thách thức của sản phẩm dịch vụ thay thế Sản phẩm thay thế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.