Tổng quan nghiên cứu

Ninh Thuận là trung tâm sản xuất nho lớn nhất cả nước nhờ điều kiện khí hậu bán khô hạn đặc thù với lượng bức xạ nhiệt dồi dào. Tính đến năm 2010, diện tích canh tác nho dù chỉ đạt 758 ha (chiếm 1,02% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh) nhưng lại đóng góp tới 14,9% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, giai đoạn 2006 - 2011 chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng khi diện tích trồng nho toàn tỉnh thu hẹp từ 1.511 ha xuống còn 662 ha (giảm bình quân 15,2%/năm), kéo theo sản lượng giảm từ 27,73 ngàn tấn xuống còn 16,158 ngàn tấn (giảm bình quân 12,5%/năm).

Nguyên nhân cốt lõi của sự suy thoái này bắt nguồn từ tình trạng thoái hóa giống cây trồng, kỹ thuật thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu (thời gian bảo quản tươi chỉ tối đa 07 ngày), cùng với sự cạnh tranh gay gắt từ các dòng nho nhập khẩu từ Mỹ, Úc và Trung Quốc. Thêm vào đó, thương hiệu nông sản địa phương chưa được quản trị một cách chuyên nghiệp, dẫn đến tình trạng nông dân ồ ạt chặt bỏ giàn nho để chuyển sang các loại cây trồng khác.

Trước bối cảnh đó, đề tài tập trung giải quyết bài toán chiến lược: Làm thế nào để định vị, bảo vệ và phát triển bền vững thương hiệu Nho Ninh Thuận trên thị trường nội địa? Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận về tài sản thương hiệu nông nghiệp; khảo sát, đánh giá toàn diện các yếu tố tác động đến chuỗi giá trị và thương hiệu nho; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng chuyên canh trọng điểm tại các huyện Ninh Phước, Ninh Hải, Thuận Nam, Ninh Sơn và thành phố Phan Rang - Tháp Chàm trong giai đoạn 2009 - 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn, trực tiếp góp phần ổn định sinh kế cho 148.811 lao động nông nghiệp toàn tỉnh, gia tăng mức lợi nhuận bình quân trên 217 triệu đồng/ha/năm cho người nông dân và xác lập vị thế vững chắc cho nông sản Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình tài sản thương hiệu của David A. Aaker (1996) làm nền tảng lý thuyết chủ đạo. Mô hình này xác định giá trị thương hiệu được cấu thành từ 5 thành tố cơ bản: nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, liên tưởng thương hiệu, lòng trung thành thương hiệu và các tài sản sở hữu độc quyền khác. Kết hợp với đó là quan điểm định vị thương hiệu của Philip Kotler và lý thuyết thu hẹp định vị của Al Ries & Laura Reis, nhấn mạnh rằng một sản phẩm mang tính đặc thù cao sẽ tạo ra cảm nhận chất lượng vượt trội hơn hẳn các sản phẩm mang tính đại trà.

Về mặt pháp lý và quản trị nông sản, đề tài áp dụng các quy định chuyên ngành về chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa căn cứ theo Điều 785, Điều 786 của Bộ luật Dân sự và Điều 10, Điều 13 của Nghị định 54/CP của Chính phủ. Đây là khung pháp lý mang tính bắt buộc nhằm phân biệt nhãn hiệu thông thường với thương hiệu sản phẩm địa phương có chất lượng gắn liền với điều kiện địa lý độc đáo. Các khái niệm về chuỗi giá trị nông nghiệp, kiến trúc thương hiệu và điểm chạm truyền thông cũng được tích hợp để phân tích hành vi của các tác nhân tham gia thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2009 - 2012. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận, các báo cáo chuyên ngành của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, cùng Quyết định số 3735/QĐ-UBND ngày 25/06/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận về định mức kinh tế - kỹ thuật cây trồng.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập với tổng quy mô mẫu điều tra là 393 đối tượng, phân bổ tại hai địa bàn chính: 225 mẫu nội tỉnh và 168 mẫu ngoại tỉnh. Cơ cấu mẫu khảo sát bao phủ toàn bộ các tác nhân trong chuỗi giá trị:

  • 03 nhà cung cấp cây giống
  • 06 đại lý vật tư nông nghiệp
  • 100 hộ nông dân và tổ chức sản xuất nho (tập trung tại huyện Ninh Phước - địa bàn chiếm tỷ trọng diện tích và sản lượng lớn nhất tỉnh)
  • 05 thương lái thu gom
  • 12 chủ vựa và đại lý bán sỉ (04 trong tỉnh, 08 ngoài tỉnh)
  • 12 người bán lẻ (05 trong tỉnh, 07 ngoài tỉnh)
  • 03 công ty chế biến nông sản
  • 02 siêu thị phân phối
  • 200 người tiêu dùng (50 tại nội tỉnh, 150 tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng)
  • 50 chuyên gia và nhà quản lý am hiểu sâu về ngành nho tại địa phương

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện theo chuỗi cung ứng được áp dụng để đảm bảo tính kế thừa dữ liệu từ khâu sản xuất đầu vào đến khâu phân phối và tiêu dùng cuối cùng. Về kỹ thuật xử lý dữ liệu, tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả (tính tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình qua thang đo Likert) để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thương hiệu. Đồng thời, phương pháp phân tích kinh tế chuỗi giá trị được sử dụng nhằm bóc tách chi tiết chi phí trung gian, chi phí tăng thêm, doanh thu và biên lợi nhuận ròng của từng tác nhân, từ đó chỉ ra những điểm nghẽn làm suy giảm giá trị thương hiệu Nho Ninh Thuận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cây nho mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với các loại cây trồng truyền thống nhưng chi phí sản xuất đang chịu áp lực lớn từ công lao động. Khảo sát chi phí sản xuất cho thấy, người trồng nho phải đầu tư trung bình 11.122 đồng/kg. Trong đó, chi phí trung gian là 4.492 đồng/kg (chiếm 40,39% tổng chi phí, gồm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 2.565 đồng/kg, thuê đất 1.102 đồng/kg, bơm tưới 413 đồng/kg). Chi phí tăng thêm là 6.630 đồng/kg (chiếm 59,61%), đặc biệt chi phí thuê mướn lao động lên tới 5.774 đồng/kg, chiếm tỷ trọng cao nhất 51,91%. Với năng suất bình quân 24.490 kg/ha và giá bán bình quân 19.990 đồng/kg, người trồng nho đạt mức thu 489.555.100 đồng/ha/năm, lợi nhuận ròng đạt 217.180.320 đồng/ha/năm (tương đương 8.868 đồng/kg nho). Mức lãi này cao hơn từ 4 đến 5 lần so với canh tác lúa và 3 đến 4 lần so với cây thuốc lá.

Thứ hai, khảo sát ý kiến từ 50 chuyên gia chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiềm năng tự nhiên và năng lực quản trị nội tại. Trên thang điểm 5, yếu tố điều kiện tự nhiên được đánh giá cao nhất ở cả mức độ ảnh hưởng (4,6 điểm) và thực trạng đáp ứng (4,6 điểm). Tuy nhiên, các yếu tố kỹ thuật và thương mại lại bộc lộ nhiều điểm yếu:

  • Khâu chế biến và bảo quản: mức độ ảnh hưởng đạt 4,4 điểm nhưng thực trạng chỉ đạt 2,2 điểm (mức kém)
  • Kỹ thuật sản xuất: mức độ ảnh hưởng 4,3 điểm nhưng thực trạng chỉ đạt 3,1 điểm
  • Kỹ thuật thu hoạch: mức độ ảnh hưởng 4,3 điểm nhưng thực trạng đạt 3,2 điểm
  • Giống nho: mức độ ảnh hưởng 4,2 điểm nhưng thực trạng đạt 3,4 điểm
  • Hệ thống lưu thông phân phối: mức độ ảnh hưởng 4,1 điểm nhưng thực trạng đạt 3,0 điểm

Thứ ba, cấu trúc kênh phân phối mang tính tự phát và phụ thuộc nặng nề vào thị trường truyền thống. Khoảng 70% tổng sản lượng nho ăn tươi được chuyển tới các chợ đầu mối tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng thông qua mạng lưới thương lái và chủ vựa bán sỉ; 30% còn lại tiêu thụ nội tỉnh. Kênh bán lẻ hiện đại (siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi) chiếm tỷ trọng dưới 5%. Thời gian bảo quản nho tươi rất ngắn (tối đa 07 ngày kể từ lúc thu hoạch) tạo ra rủi ro hao hụt cơ học lên tới 2% đến 5% khi vận chuyển đường dài.

Thứ tư, nho Ninh Thuận có lợi thế cạnh tranh về giá so với nho nhập khẩu nhưng gặp sức ép từ các loại trái cây nội địa. Tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, giá bán lẻ nho đỏ Ninh Thuận đạt 45.000 đồng/kg, thấp hơn 41,5% so với nho đỏ Mỹ (77.000 đồng/kg) và thấp hơn 68,1% so với nho xanh không hạt Mỹ (141.000 đồng/kg). Tuy nhiên, mức giá này lại cao hơn nhiều loại trái cây đặc sản nội địa như sầu riêng (32.000 đồng/kg), nhãn tiêu Huế (25.000 đồng/kg), cam sành (26.000 đồng/kg) và thanh long ruột đỏ (44.000 đồng/kg).

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm 56,18% diện tích nho giai đoạn 2006 - 2011 (từ 1.511 ha xuống 662 ha) phản ánh rõ nét sự thiếu bền vững trong quy hoạch. Việc người dân tự phát chuyển đổi từ đất lúa sang trồng nho trên các chân đất trũng đã dẫn đến tình trạng ngập úng khi mưa lũ. Đồng thời, giống nho đỏ Red Cardinal độc canh qua nhiều năm đã bị thoái hóa gen nghiêm trọng, làm giảm năng suất và khả năng kháng sâu bệnh.

Khi mô tả dữ liệu cơ cấu chi phí dưới dạng biểu đồ cột, có thể thấy chi phí nhân công chiếm hơn một nửa giá thành sản xuất. Thực trạng này bắt nguồn từ việc canh tác thủ công và chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp còn rất thấp (91,9% lao động nông - lâm - thủy sản chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật). So sánh với các nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản tại các nước đang phát triển, mô hình thương hiệu Nho Ninh Thuận thiếu vắng sự liên kết dọc chặt chẽ giữa doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân. Đa số nho chế biến (rượu vang, mật nho, nho khô) chỉ sử dụng nguồn nguyên liệu phụ phẩm, thải loại từ nho ăn tươi tại hơn 200 cơ sở cá thể nhỏ lẻ dọc Quốc lộ 1A, làm suy giảm uy tín chất lượng của thương hiệu chung trên thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu khôi phục và phát triển thương hiệu Nho Ninh Thuận đến năm 2020 trở thành thương hiệu nông sản quốc gia có uy tín cao, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Giải pháp 1: Chuẩn hóa quy trình canh tác và nâng cao chất lượng giống theo tiêu chuẩn VietGAP. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận chủ trì phối hợp với Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố phục tráng các giống nho truyền thống thông qua gốc ghép kháng bệnh Couderc 1613; mở rộng diện tích các giống nho chất lượng cao như nho xanh ăn tươi NH01-48 (độ Brix đạt 17 - 19%) và giống nho chế biến rượu NH02-90 (năng suất trên 15 tấn/ha/vụ). Mục tiêu đến năm 2015 khôi phục diện tích đạt 1.000 ha và đến năm 2020 đạt 1.500 ha sản xuất theo quy trình an toàn sinh học.
  • Giải pháp 2: Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu đồng bộ và bảo vệ chỉ dẫn địa lý. Sở Khoa học và Công nghệ cùng Hiệp hội Nho Ninh Thuận thiết kế lại bộ nhận diện thương hiệu chuẩn (logo, câu khẩu hiệu, mẫu bao bì chuyên dụng có mã vạch); ban hành quy chế cấp quyền sử dụng tem nhãn chứng nhận chỉ dẫn địa lý "Nho Ninh Thuận". Phấn đấu đến năm 2018 đạt mục tiêu 100% sản phẩm nho tươi cung ứng ra thị trường ngoài tỉnh đều có tem truy xuất nguồn gốc chống hàng giả.
  • Giải pháp 3: Tái cấu trúc chuỗi cung ứng và hiện đại hóa kênh phân phối. Các Hợp tác xã sản xuất nho chủ động ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp với các chuỗi siêu thị lớn (Co.opmart, Big C, Metro) và hệ thống bán lẻ cao cấp tại các đô thị trọng điểm. Mục tiêu nâng tỷ trọng phân phối qua kênh hiện đại từ mức dưới 5% lên 25 - 30% vào năm 2020. Đầu tư dây chuyền chiếu xạ và kho lạnh bảo quản sau thu hoạch nhằm kéo dài tuổi thọ sản phẩm từ 07 ngày lên 15 - 20 ngày.
  • Giải pháp 4: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và nâng cao năng lực nguồn nhân lực. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Sở Công Thương định kỳ tổ chức Lễ hội Nho và Vang Ninh Thuận 2 năm/lần gắn liền với phát triển du lịch sinh thái vườn nho; thực hiện các chiến dịch truyền thông giáo dục người tiêu dùng về giá trị dinh dưỡng của trái nho. Đồng thời, Trung tâm Khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao công nghệ cho trên 80% hộ nông dân trồng nho trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Khoa học & Công nghệ, Sở Công Thương): Sử dụng các số liệu khảo sát về quy hoạch đất đai, cơ cấu giống và đánh giá chuyên gia để hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển vùng chuyên canh nho an toàn, xây dựng cơ chế quản lý chỉ dẫn địa lý và ban hành định mức kỹ thuật phù hợp.
  • Doanh nghiệp chế biến nông sản và Hợp tác xã: Tham khảo phân tích chuỗi giá trị và cấu trúc chi phí sản xuất để tối ưu hóa khâu thu mua, thiết lập hợp đồng liên kết bao tiêu với nông dân, đầu tư công nghệ bảo quản sau thu hoạch và mở rộng thị trường phân phối chính ngạch vào hệ thống siêu thị.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp luận nghiên cứu chuỗi giá trị nông nghiệp, ứng dụng mô hình tài sản thương hiệu của David Aaker vào thị trường nông sản thực tế tại Việt Nam.
  • Hộ nông dân trực tiếp canh tác nho tại Ninh Thuận và các vùng phụ cận: Nắm vững cấu trúc chi phí sản xuất để hạch toán hiệu quả kinh tế, thay đổi phương thức canh tác truyền thống sang quy trình VietGAP, sử dụng các giống nho mới (NH01-48, NH02-90) nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao diện tích trồng nho tại Ninh Thuận lại suy giảm mạnh từ 1.511 ha xuống 662 ha giai đoạn 2006 - 2011? Nguyên nhân chủ yếu do người dân tự phát chuyển đổi sang trồng nho trên các vùng đất không phù hợp, dẫn đến ngập úng khi mưa lũ. Thêm vào đó, việc giống nho đỏ Red Cardinal bị thoái hóa gen nghiêm trọng, sâu bệnh bùng phát và chi phí lao động tăng cao khiến hiệu quả kinh tế sụt giảm, buộc nông dân chuyển hướng sang trồng táo.

Nho Ninh Thuận có những lợi thế cạnh tranh cốt lõi nào so với nho nhập khẩu từ Mỹ và Úc? Nho Ninh Thuận có lợi thế tuyệt đối về giá bán lẻ (khoảng 45.000 đồng/kg so với mức 77.000 - 141.000 đồng/kg của nho Mỹ), khả năng thu hoạch rải vụ quanh năm (3 vụ/năm) nhờ tổng tích ôn cao, cùng hương vị chua ngọt thanh mát đặc trưng rất phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng trong nước.

Cơ cấu chi phí sản xuất 1 kg nho tươi tại Ninh Thuận phân bổ như thế nào? Tổng chi phí sản xuất bình quân là 11.122 đồng/kg. Trong đó, chi phí trung gian chiếm 40,39% (4.492 đồng/kg gồm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuê đất và tưới tiêu); chi phí tăng thêm chiếm 59,61% (6.630 đồng/kg, trong đó công lao động thuê mướn chiếm tỷ trọng cao nhất với 5.774 đồng/kg).

Tại sao chỉ dẫn địa lý lại là yếu tố sống còn đối với sự phát triển của thương hiệu Nho Ninh Thuận? Chỉ dẫn địa lý là công cụ pháp lý bảo vệ sản phẩm trước vấn nạn hàng giả, hàng nhái kém chất lượng trên thị trường tự do. Việc gắn tem chỉ dẫn địa lý giúp người tiêu dùng nhận diện chính xác nguồn gốc xuất xứ, gia tăng giá trị cảm nhận và tạo điều kiện đưa sản phẩm vào các kênh phân phối cao cấp.

Khâu nào trong chuỗi giá trị Nho Ninh Thuận đang bị chuyên gia đánh giá yếu nhất? Theo kết quả khảo sát 50 chuyên gia, khâu chế biến và bảo quản sau thu hoạch bị đánh giá yếu nhất, chỉ đạt 2,2/5 điểm thực trạng (trong khi mức độ ảnh hưởng lên tới 4,4/5 điểm). Thời gian bảo quản tươi chỉ được tối đa 07 ngày, gây khó khăn lớn cho việc vận chuyển và mở rộng thị trường tiêu thụ xa.

Kết luận

  • Cây nho là cây trồng chủ lực của tỉnh Ninh Thuận, mang lại lợi nhuận bình quân trên 217 triệu đồng/ha/năm, cao hơn gấp 4 đến 5 lần so với trồng lúa và đóng góp 14,9% giá trị ngành nông nghiệp toàn tỉnh.
  • Giai đoạn 2006 - 2011 chứng kiến sự suy giảm 56,18% diện tích do giống thoái hóa, kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch lạc hậu (tối đa 07 ngày) và quản trị thương hiệu còn mang tính tự phát.
  • Nghiên cứu đã khảo sát mẫu điều tra 393 đối tượng trong toàn chuỗi giá trị, chỉ ra rằng chi phí lao động chiếm tới 51,91% giá thành sản xuất và khâu chế biến - bảo quản chỉ đạt 2,2/5 điểm đánh giá chuyên gia.
  • Đề tài đóng góp hệ thống 4 giải pháp mang tính đột phá: chuẩn hóa quy trình VietGAP, cấp tem chỉ dẫn địa lý truy xuất nguồn gốc, tái cấu trúc kênh siêu thị đạt 25 - 30% và đẩy mạnh xúc tiến thương mại đến năm 2020.
  • Các cơ quan quản lý, hợp tác xã và doanh nghiệp cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng tầm giá trị nông sản Việt Nam, đưa Nho Ninh Thuận phát triển bền vững và vươn tầm quốc tế.