Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN 1.3 Sự ra đời và phát triển của thẻ thanh toán trên thế giới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thẻ ngân hàng xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20. Năm 1914, tổng công ty xăng dầu California cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng nhằm mục tiêu khuyến khích việc bán các sản phẩm. Loại hình đầu tiên của thẻ thanh toán ra đời năm 1945, ngân hàng John Biggins tại Mỹ đã sản xuất ra một loại thẻ cho phép khách hàng dùng nó để mua hàng ở những nơi bán lẻ, ngân hàng có nhiệm vụ thu tiền thanh toán của khách hàng để trả vào tài khoản của những nơi này. Vào năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider, hai doanh nhân người Mỹ đã đồng thành lập ra thẻ Diners’Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và quên đem theo tiền mặt.
Loại thẻ này giúp người sở hữu thẻ có thể ghi nợ sau khi ăn hay nghỉ tại một nhà hàng, khách sạn nào đó tại New York mà không cần mang tiền mặt, số tiền ghi nợ thanh toán định kỳ theo tháng mà không giới hạn số tiền được phép chi tiêu. Loại hình thẻ thanh toán của ngân hàng John Biggins tại Mỹ là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng Franklink National năm 1951. Khách hàng sẽ đệ trình đơn xin vay và thẩm định khả năng thanh toán, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Cơ sở chấp nhận thẻ khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân hàng.
Đến năm 1955, hàng loạt thẻ mới xuất hiện tại Mỹ như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club. Năm 1958, thẻ Card Balancher, American Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Năm 1960, ngân hàng lớn nhất của Mỹ Bank of America phát hành loại thẻ mang tên hiệu của họ. Ngân hàng này cũng cấp phép cho các định chế tài chính trong khu vực với những quy định và tiêu chuẩn riêng để phát hành thẻ mang tên thương hiệu Bank of America.
Năm 1966, mười bốn ngân hàng lớn của Mỹ thành lập hiệp hội thẻ liên ngân hàng quốc tế và phát hành thẻ Master Charge. Năm 1977, thẻ Bank America đổi tên thành Visa USA, sau đó đổi tên thành Visa. Năm 1979, Master Charge đổi tên thành Master Card. Ngày nay, Visa và Master là hai loại thẻ được sử dụng nhiều nhất.
Bên cạnh đó, có bốn tổ chức thẻ lớn nhất được nhiều người biết đến như Visa, Master Card, Amex, JCB và nhiều loại thẻ liên kết giữa công ty và ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Khái niệm thẻ thanh toán Có nhiều khái niệm khác nhau về thẻ thanh toán, cụ thể như: 1. Là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép người sử dụng khả năng chi tiêu trước, trả tiền sau. Thẻ tín dụng được dùng để thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc rút tiền từ máy ATM.
Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty. Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant).
Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Theo quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng kèm theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 thì thẻ thanh toán là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận 1.2 Phân loại thẻ thanh toán: 1.1 Theo công nghệ sản xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): Loại thẻ này là loại thẻ đầu tiên được sản xuất, dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tuy nhiên hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua, được sử dụng dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Tuy nhiên thẻ loại này không tự mã hoá, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, bảo mật thông tin thấp.
Thẻ thông minh (Smart Card hay Chip Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có tích hợp chip xử lý vi mạch chứa thông tin ví tiền điện tử, loại thẻ này có thủ tục thanh toán nhanh chỉ là thao tát quẹt thẻ mà không cần nhập password, vân tay hay chữ ký, thông tin tài chính của thẻ này được mã hóa, không cần phải kết nối với hệ thống quản lý dữ liệu Smartcard. Thẻ Smartcard rất bền, có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính, có khả năng lưu trữ, bảo mật an toàn thông tin, hỗ trợ nhiều ứng dụng và đảm bảo an toàn cho thẻ.2 Theo tính chất thanh toán của thẻ Thẻ tín dụng (Credit Card): loại thẻ này thể hiện mối quan hệ vay mượn giữa chủ thẻ và ngân hàng, theo đó chủ thẻ có thể rút tiền mặt hoặc được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh chấp nhận loại thẻ này, cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả. Hạn mức tín dụng này có thể là tín chấp hoặc thế chấp. Thẻ ghi nợ (Debit card): Đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi, loại thẻ này không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.
Đặc trưng của thẻ ghi nợ là nộp tiền trước, chi tiêu sau, tức chủ thẻ phải nộp trước tiền vào tài khoản thẻ và chỉ được chi tiêu trong phạm vi số tiền đã nộp. Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản: + Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày. Thẻ trả trước (prepaid card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả cho tổ chức phát hành thẻ.
Thẻ trả trước có hai loại:thẻ trả trước định danh và thẻ trả trước vô danh.3 Theo phạm vi lãnh thổ: Thẻ nội địa: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó. Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán.4 Theo chủ thể phát hành Thẻ do các ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho phép chủ thẻ sử dụng số dư trên tài khoản tiền gửi hoặc có thể được ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng để rút tiền, mua hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ… Thẻ do các tổ chức không phải ngân hàng phát hành: Loại thẻ này do các tập đoàn, các công ty cung ứng hàng hóa, dịch vụ, du lịch, giải trí,… phát hành nhằm tạo thêm những tiện ích cho khách hàng, kích thích người dùng sử dụng mua sắm.5 Theo đối tượng phát hành Thẻ cá nhân: Loại thẻ này phát hành theo yêu cầu của khách hàng cá nhân và cá nhân đó chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ, phí theo quy định bằng nguồn tài chính của cá nhân. Thẻ công ty: Loại thẻ này phát hành theo yêu cầu của khách hàng là tổ chức. Công ty là người sở hữu, chịu trách nhiệm về việc sử dụng của thẻ và có quyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết định người nào được quyền sử dụng thẻ cho mục đích công việc trong công ty.
Nhiều ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng cho công ty, công ty được quyền phân bổ hạn mức tín dụng này cho những cá nhân sử dụng.4 Những lợi ích, rủi ro trong việc sử dụng thẻ thanh toán 1.1 Những lợi ích 1.1 Đối với người sử dụng thẻ • Rút, nộp tiền mặt Người sử dụng thẻ có thể dùng thẻ để rút hoặc nộp tiền mặt tại các máy ATM, máy cà thẻ của ngân hàng mở thẻ hoặc ngân hàng có liên kết với ngân hàng phát hành vào bất cứ thời gian nào trong ngày. Ở các nước mà việc sử dụng thẻ chưa được phổ biến, đây là lợi ích được xem là cơ bản đối với người sử dụng thẻ. Đối với các quốc gia mà việc thanh toán được xem là thông dụng thì chức năng này ít được dùng đến. Dễ dàng, thuận tiện trong việc thanh toán Chủ thẻ có thể dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ trong nước và ngoài nước.
Khi đi các quốc gia khác, khách hàng không cần mất công đổi sang đồng tiền bản tệ của quốc gia đó để mang theo mà có thể dùng thẻ để thanh toán. Mặt khác, ở một số nước đồng tiền bản tệ của quốc gia đó không phổ biến ở Việt Nam, vì vậy khách hàng rất khó để tìm mua ngoại tệ mặt để đem theo, khách hàng phải mất công đổi VND sang USD và đổi tiếp từ USD sang bản tệ hay đổi lại VND khi về Việt Nam. Trong khi đó chỉ cần mang theo một chiếc thẻ, khách hàng có thể giải quyết được hết những vấn đề này mà không cần mang theo ngoại tệ mặt.