Tổng quan nghiên cứu
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò là động lực then chốt của nền kinh tế Việt Nam khi chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên toàn quốc và đóng góp hơn 40% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, khối doanh nghiệp này đảm nhận việc làm cho hơn 50% tổng số lao động trong khu vực doanh nghiệp, đóng góp khoảng 78% tổng mức bán lẻ và 33% giá trị sản lượng công nghiệp cả nước. Mặc dù số lượng DNNVV tăng trưởng vượt bậc từ 14.200 doanh nghiệp năm 2000 lên 446.000 doanh nghiệp năm 2009, phần lớn các đơn vị vẫn đang đối mặt với những rào cản nghiêm trọng về năng lực tài chính. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng có tới 74% DNNVV gặp khó khăn lớn về nguồn vốn, trong đó 66,95% doanh nghiệp thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu hụt tài chính nhưng chỉ có 32,38% tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn cấp thiết để đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh của khối DNNVV với khả năng cung ứng hạn chế từ các kênh tài chính chính thức. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về các kênh tài trợ vốn, phân tích thực trạng rào cản tiếp cận vốn ngân hàng, cho thuê tài chính và quỹ bảo lãnh tín dụng giai đoạn 2000-2009, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm khơi thông dòng vốn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các DNNVV trên phạm vi toàn quốc trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hội nhập và chịu tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính thời sự cao, góp phần nâng cao tỷ lệ tiếp cận vốn vay, giảm chi phí sử dụng vốn và duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân trên 30% mỗi năm cho khu vực kinh tế dân doanh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng nền tảng phân tích dựa trên hai trụ cột lý thuyết kinh tế hiện đại: Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) của Myers và Majluf cùng Lý thuyết thông tin bất cân xứng và phân bổ tín dụng (Credit Rationing) của Stiglitz và Weiss. Theo đó, các doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ trước khi tìm kiếm các khoản tài trợ bên ngoài; tuy nhiên, do quy mô tích lũy thấp, DNNVV buộc phải phụ thuộc vào vốn vay. Bất cân xứng thông tin giữa bên vay và bên cho vay dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, khiến các định chế tài chính siết chặt điều kiện thế chấp hoặc từ chối cấp tín dụng.
Mô hình nghiên cứu phân loại toàn diện các kênh huy động vốn của DNNVV thành hai nhóm chính: nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp ban đầu, lợi nhuận giữ lại, vốn góp thành viên mới, quỹ đầu tư mạo hiểm) và nguồn vốn nợ (tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, cho thuê tài chính, quỹ bảo lãnh tín dụng và vốn vay ưu đãi nhà nước). Khái niệm DNNVV được chuẩn hóa theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, phân chia theo 3 cấp độ: siêu nhỏ (dưới 10 lao động), nhỏ (vốn dưới 20 tỷ đồng hoặc từ 10 đến 200 lao động), và vừa (vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng hoặc từ 200 đến 300 lao động tùy ngành nghề).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp giữa số liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000-2009 và dữ liệu sơ cấp từ các cuộc khảo sát thực nghiệm chuyên sâu. Luận văn khai thác bộ dữ liệu khảo sát quy mô lớn gồm 63.000 doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc do Cục Phát triển DNNVV thực hiện, kết hợp kết quả điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng hơn 1.000 DNNVV trên cả nước của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2008.
Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích định lượng cơ cấu nguồn vốn, so sánh logic đối chiếu và phân tích kinh nghiệm quốc tế từ Malaysia (chương trình bảo lãnh 2 tỷ ringgit qua CGC), Đài Loan (quỹ bảo lãnh và ngân sách 10 tỷ đô la Đài Loan) và Thái Lan (Ngân hàng Phát triển DNNVV với quy mô 1,7 tỷ USD). Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính đa chiều của thị trường tài chính; việc kết hợp phân tích định lượng mẫu lớn với đối sánh chính sách quốc tế giúp lượng hóa chính xác các điểm nghẽn tiếp cận vốn tại Việt Nam và đảm bảo tính khả thi cho các đề xuất trong giai đoạn 2010-2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô tài chính của khối DNNVV còn rất mỏng manh dù số lượng gia tăng vượt bậc. Trong tổng số 446.000 doanh nghiệp năm 2009, có tới 80% doanh nghiệp tư nhân có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng, gần 50% số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng và 87% sử dụng dưới 50 lao động. Vốn tự có chỉ chiếm bình quân 36,25% trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh.
Thứ hai, mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng rất cao nhưng tỷ lệ đáp ứng lại vô cùng khiêm tốn. Vốn vay ngân hàng chiếm 45,31% cơ cấu tài trợ, song chỉ có 10,5% doanh nghiệp được ngân hàng đáp ứng đúng 100% nhu cầu vốn; 26,1% được thỏa mãn 75% nhu cầu; 33,5% được đáp ứng một nửa và 29,8% chỉ vay được 25% lượng vốn cần thiết. Trong tổng số doanh nghiệp khảo sát, chỉ 32,38% tiếp cận được vốn ngân hàng, 35,24% khó tiếp cận và 32,38% hoàn toàn không thể tiếp cận.
Thứ ba, rào cản tín dụng chính thức rất đa dạng, tập trung lớn nhất vào chi phí vốn và tài sản đảm bảo. Có 73,8% doanh nghiệp phản ánh lãi suất vay quá cao, 29,6% thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn, 23,7% vướng mắc thủ tục hành chính phức tạp và 19,1% gặp khó khăn khi lập phương án kinh doanh khả thi.
Thứ tư, các kênh tài chính thay thế chưa phát huy được vai trò hỗ trợ. Kênh cho thuê tài chính tại Việt Nam với 13 công ty chỉ chiếm khoảng 1,2% tổng dư nợ tín dụng trung và dài hạn (thấp hơn rất nhiều so với mức 15-20% ở các nước đang phát triển). Hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương còn mờ nhạt; đơn cử tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 60.000 DNNVV trên địa bàn, Quỹ mới chỉ bảo lãnh cho 15 doanh nghiệp với tổng số tiền 105 tỷ đồng tính đến đầu năm 2009.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng nghẽn vốn bắt nguồn từ cả hai phía. Về phía doanh nghiệp, trình độ quản trị và tính minh bạch thông tin tài chính còn yếu kém khi 55,63% chủ doanh nghiệp có trình độ từ trung cấp trở xuống (trong đó 43,3% chỉ có trình độ phổ thông), dẫn đến việc lập báo cáo tài chính thiếu chuẩn mực và phương án kinh doanh thiếu thuyết phục. Về phía ngân hàng, áp lực kiểm soát nợ xấu khiến các tổ chức tín dụng ưu tiên phục vụ doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn lớn vốn nắm giữ 43% vốn chủ sở hữu toàn ngành dù chỉ chiếm 1,8% số lượng doanh nghiệp.
Dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu nguồn vốn (45,31% vốn vay, 36,25% vốn tự có) và bảng ma trận đối chiếu mức độ đáp ứng nhu cầu vốn (chỉ 10,5% đáp ứng hoàn toàn nhu cầu so với 29,8% chỉ đáp ứng 25%) để làm nổi bật khoảng cách cung - cầu tín dụng. So sánh với các mô hình thành công như Quỹ CGC của Malaysia (bảo lãnh 80% giá trị khoản vay) hay Ngân hàng Phát triển DNNVV Thái Lan (phục vụ 15.195 doanh nghiệp với dư nợ 1,26 tỷ USD), hệ thống bảo lãnh và cấp vốn chuyên biệt tại Việt Nam còn phân tán, thiếu quy chế chia sẻ rủi ro rõ ràng giữa ngân sách nhà nước và các tổ chức tín dụng thương mại.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, nâng cao tính minh bạch và chuẩn hóa quản trị tại các DNNVV. Doanh nghiệp cần chủ động thiết lập hệ thống sổ sách kế toán theo đúng Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, nâng tỷ lệ báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập lên trên 60% vào năm 2012. Áp dụng mô hình chẩn đoán doanh nghiệp Shindan để tự đánh giá sức khỏe tài chính và nâng cao hiệu quả phương án sản xuất kinh doanh nhằm tăng hệ số tín nhiệm trước ngân hàng.
Thứ hai, tái cấu trúc quy trình cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng cần xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ dành riêng cho DNNVV, chuyển dịch từ thẩm định dựa trên tài sản thế chấp sang thẩm định dòng tiền và tính khả thi của hợp đồng kinh tế. Cắt giảm thủ tục hành chính để rút ngắn thời gian phê duyệt hồ sơ vay xuống còn 3 ngày làm việc (như mô hình ABBANK), đồng thời đa dạng hóa danh mục tài sản nhận thế chấp bằng động sản và hàng tồn kho luân chuyển.
Thứ ba, mở rộng thị trường cho thuê tài chính và tái lập quỹ bảo lãnh tín dụng. Các công ty cho thuê tài chính cần đẩy mạnh quảng bá dịch vụ, nâng tỷ trọng dư nợ thuê mua từ 1,2% lên mức 5% đến 7% tổng dư nợ trung dài hạn trong giai đoạn 2011-2015. Chính phủ cần sửa đổi Quyết định 193/2001/QĐ-TTg, quy định rõ cơ chế trích lập dự phòng và tỷ lệ chia sẻ rủi ro giữa ngân sách địa phương với các ngân hàng thương mại, nâng bội số bảo lãnh lên gấp 5 đến 8 lần vốn điều lệ.
Thứ tư, hoàn thiện chính sách hỗ trợ vĩ mô từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Mở rộng quy mô gói bảo lãnh tín dụng do Ngân hàng Phát triển Việt Nam làm đầu mối với hạn mức đạt 15.000 tỷ đồng trong năm 2010. Duy trì các chính sách tài khóa linh hoạt như miễn giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn kinh tế biến động, đồng thời nghiên cứu đề án thành lập Ngân hàng Chuyên trách Phát triển DNNVV theo mô hình thành công của Thái Lan.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Chủ doanh nghiệp, Giám đốc điều hành và Kế toán trưởng DNNVV: Tiếp cận phương pháp tối ưu hóa cơ cấu vốn (cân đối tỷ lệ vốn tự có 36,25% và vốn vay), nắm vững kỹ năng chuẩn bị hồ sơ vay vốn chuẩn mực để khắc phục 4 rào cản tín dụng phổ biến, từ đó tăng cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng và dịch vụ thuê tài chính.
- Cán bộ tín dụng, Thẩm định viên và Lãnh đạo ngân hàng thương mại: Tham khảo bức tranh định lượng chi tiết về nhu cầu vốn của 446.000 doanh nghiệp, từ đó ứng dụng các giải pháp rút ngắn chu kỳ thẩm định xuống 3 ngày và thiết kế các gói sản phẩm tín chấp, tài trợ chuỗi cung ứng phù hợp với từng phân khúc doanh nghiệp.
- Cơ quan quản lý nhà nước và Hoạch định chính sách (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát 63.000 doanh nghiệp cùng các phân tích pháp lý (Nghị định 56/2009/NĐ-CP, Quyết định 14/2009/QĐ-TTg) để hoàn thiện khung pháp lý về Quỹ bảo lãnh tín dụng và xây dựng chiến lược phát triển tài chính toàn diện.
- Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo học thuật giá trị cao về lý thuyết cấu trúc vốn, bất cân xứng thông tin và kinh nghiệm phát triển hệ thống tài chính cho DNNVV tại các quốc gia châu Á.
Câu hỏi thường gặp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam tiếp cận nguồn vốn nào là chủ yếu?
Do quy mô tích lũy vốn tự có ban đầu rất nhỏ (chỉ chiếm bình quân 36,25% cơ cấu vốn), trong khi các kênh huy động vốn dài hạn như phát hành cổ phiếu hay trái phiếu vượt quá năng lực đáp ứng điều kiện niêm yết. Vốn tín dụng ngân hàng chiếm 45,31% tổng nguồn vốn hoạt động và trở thành kênh tài trợ khả dĩ nhất để duy trì sản xuất kinh doanh thường xuyên.
Những nguyên nhân chính khiến 67,62% DNNVV khó hoặc không tiếp cận được vốn ngân hàng là gì?
Theo kết quả điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2008, trở ngại lớn nhất là lãi suất vay cao (73,8%), tiếp theo là thiếu tài sản thế chấp hợp pháp (29,6%), thủ tục hành chính rườm rà (23,7%) và năng lực lập phương án kinh doanh còn yếu (19,1%). Ngoài ra, 55,63% chủ doanh nghiệp có trình độ từ trung cấp trở xuống khiến báo cáo tài chính thiếu độ tin cậy.
Kênh cho thuê tài chính có ưu điểm gì vượt trội so với vay vốn ngân hàng truyền thống?
Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn cho phép doanh nghiệp sở hữu máy móc công nghệ hiện đại mà không cần thế chấp tài sản bổ sung. Dù dư nợ kênh này tại Việt Nam mới chiếm 1,2% tổng dư nợ, đây là giải pháp tối ưu giúp 80% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng đổi mới trang thiết bị sản xuất.
Vì sao Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại các địa phương hoạt động chưa hiệu quả?
Nguyên nhân chủ yếu do vốn điều lệ quỹ tại nhiều tỉnh thành không đủ 30 tỷ đồng theo quy định, cơ chế chia sẻ rủi ro giữa quỹ và các ngân hàng thương mại chưa rõ ràng, và thủ tục thẩm định bảo lãnh phức tạp. Ví dụ điển hình là tại Thành phố Hồ Chí Minh, Quỹ mới chỉ cấp bảo lãnh được cho 15 doanh nghiệp với số tiền 105 tỷ đồng.
Việt Nam có thể áp dụng bài học kinh nghiệm nào từ Malaysia và Thái Lan để hỗ trợ vốn cho DNNVV?
Việt Nam có thể học tập mô hình Quỹ CGC của Malaysia với cơ chế bảo lãnh tới 80% giá trị khoản vay và miễn phí bảo lãnh cho doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu triển khai mô hình Ngân hàng Phát triển DNNVV như Thái Lan (với dư nợ 1,26 tỷ USD) kết hợp hệ thống đánh giá sức khỏe tài chính Shindan để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn chuẩn xác.
Kết luận
- Khẳng định vị thế nòng cốt của hơn 446.000 DNNVV khi đóng góp trên 40% GDP, 78% mức bán lẻ và tạo việc làm cho hơn 50% lực lượng lao động cả nước.
- Xác định điểm nghẽn tài chính nghiêm trọng khi 66,95% doanh nghiệp thiếu vốn và chỉ có 32,38% tiếp cận thành công nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại.
- Hệ thống hóa các rào cản tín dụng chủ yếu gồm: lãi suất cao (73,8%), thiếu tài sản thế chấp (29,6%), thủ tục rườm rà (23,7%) và 55,63% chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo quản trị chuyên sâu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp 4 trụ cột: chuẩn hóa kế toán doanh nghiệp, rút ngắn thời gian phê duyệt tín dụng xuống 3 ngày, nâng thị phần cho thuê tài chính lên 5-7% và cải tổ quỹ bảo lãnh tín dụng.
- Kiến nghị Chính phủ mở rộng hạn mức bảo lãnh qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam lên 15.000 tỷ đồng và nghiên cứu thành lập ngân hàng chuyên trách phục vụ DNNVV.
Lộ trình thực hiện khuyến nghị được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 2010-2012 tập trung hoàn thiện khung pháp lý về bảo lãnh tín dụng và chuẩn hóa kế toán doanh nghiệp; Giai đoạn 2013-2015 mở rộng quy mô các định chế tài chính phi ngân hàng và phát triển thị trường vốn chuyên biệt. Các nhà quản trị doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng cần nhanh chóng bắt tay triển khai đồng bộ các giải pháp trên nhằm tối ưu hóa năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.