Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu Chương một trong phần nội dung tập trung giới thiệu mô hình đánh giá sự hài lòng về hàng hóa và dịch vụ. Mô hình chỉ số hài lòng được xây dựng căn cứ vào các quan điểm về tâm lí học, các đặc thù về lĩnh vực hàng hóa dịch vụ, các đặc thù về văn hóa và thị hiếu. Do vậy, mô hình chỉ số hài lòng cũng được thiết kế đa đạng phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác nhau.
Mô hình đo lường chỉ số hài lòng về khuyến nông cần xem xét các yếu tố sau: - Khái niệm về hàng hóa và dịch vụ khuyến nông; - Khái niệm về sự hài lòng và các trường phái đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với hành hóa và dịch vụ. Hàng hóa và dịch vụ khuyến nông 1. Khái niệm khuyến nông Khái niệm khuyến nông theo nghĩa từ ngữ có nghĩa khuyến khích phát triển nông nghiệp, theo tiếng Anh “Agricultural extention” nghĩa là mở rộng nông nghiệp. Hoạt động khuyến khích phát triển nông nghiệp đã ra đời từ lâu và gắn liền với việc phát triển nông nghiệp.
Tuy nhiên, khuyến nông đóng vai trò ngày càng quan trọng khi khoa học kỹ thuật phát triển và nhu cầu chuyển giao khoa học kỹ thuật ứng dụng vào nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất và phát triển kinh tế. Ở Việt Nam, hoạt động khuyến nông đã hình thành rất lâu nhưng núp dưới danh nghĩa khác nhau. Trước yêu cầu sản xuất, ngày 23 tháng 3 năm 1993 Thủ tướng chính phủ ra NĐ 13/CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến ngư, Khuyến lâm của cả nước. Năm 2000, Cục Khuyến Nông đề ra khái niệm khuyến nông như sau: “Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 họ hiểu được những chính sách nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý, thông tin về thị trường, để họ có đủ khả năng để giải quyết vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phân xây dựng và phát triển nông thôn mới”.
Khái niệm trên đã thể hiện rõ bản chất công việc cũng như mục tiêu cuối cùng của khuyến nông là : - Hoạt động khuyến nông thực chất là công tác đào tạo nông dân thông qua (truyền thông – huấn luyện nông dân); - Nông dân biết và tự chọn hành động của họ; - Nhằm phát triển nông nghiệp và nông thôn; - Nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. cho người dân. Bản chất mục tiêu căn bản của khuyến nông xem ra khá thống nhất giữa các quốc gia, nhiệm vụ chức năng của cơ quan khuyến nông không thống nhất giữa các quốc gia do phạm vi hoạt động của khuyến nông rất rộng. Các quốc gia có điều kiện khác nhau về đất đai khí hậu điều kiện kinh tế văn hóa.
nên họ hiểu khuyến nông theo nghĩa khác nhau. Để phù hợp với thực tế sản xuất hiện nay, nghị định số 56/2005NĐ-CP ngày 24/6/2005 và TT số 60 /2005/TT/BNN đã quy định mục tiêu khuyến nông – khuyến ngư: - Nâng cao nhận thức về trủ trương chính sách pháp luật, kiến thức kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất. - Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. - Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông khuyến ngư Điều 3 NĐ số 56/2005/NĐ-CP đã quy định “ nguyên tắc hoạt động của khuyến nông, khuyến ngư” gồm 5 điều như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất và yêu cầu phát triển nông nghiệp thủy sản; - Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp với người sản xất và giữa người sản xuất với nhau; - Xã hội hóa hoạt động khuyến nông khuyến ngư; - Dân chủ công khai có sự tham gia tự nguyện của người sản xuất.1 Nội dung chương trình khuyến nông giai đoạn 2006 - 2010 Chính phủ cụ thể bằng “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010” và “Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010” (Chương trình 135 giai đoạn II) với sự tham gia của các Bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể có liên quan.
Mục tiêu chính của chương trình là đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo; cải thiện một bước điều kiện sống và sản xuất ở các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm hộ nghèo nhằm hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi. Đối tượng của chương trình là người nghèo, hộ nghèo, xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo; ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ là phụ nữ, hộ nghèo dân tộc thiểu số, hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội (người già, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt). Các chính sách và dự án thực hiện chủ yếu gồm: 1. Nhóm chính sách, dự án để tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập; 2.
Nhóm chính sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội; 3. Nhóm dự án nâng cao năng lực và nhận thức. Đặc trưng của hàng hóa và dịch vụ khuyến nông Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, hoạt động khuyến nông cung cấp dịch vụ cho nông dân. Theo mối quan hệ cung cầu, nhà nước là đơn vị cung cấp dịch vụ và nông dân là người tiếp nhận dịch vụ khuyến nông.
Do vậy, khuyến nông cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 được xem như một loại hàng hóa và dịch vụ đặc biệt. Hàng hóa và dịch vụ đặc biệt ở chỗ chủ thể cung cấp là nhà nước nên có các tính chất khác với hàng hóa thông thường do tư nhân cung cấp. Nhóm hành hóa và dịch vụ này gọi là hàng hóa và dịch vụ công. Hệ thống hàng hóa và dịch vụ công cũng khá phức trong cơ cấu dịch vụ công của Việt Nam.
Để rõ ràng hơn, dịch vụ khuyến nông cần xem xét dưới hai góc độ sau: - Chương trình khuyến nông thuộc nhóm hàng hóa và dịch vụ công cộng; - Chương trình khuyến nông thuộc nhóm dịch vụ phát triển kinh tế của Việt Nam. Hàng hóa và dịch vụ công Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà tư nhân không thể cung cấp mà chủ yếu nhà nước hay cộng đồng đảm trách. Những loại hàng hóa này gọi là hàng hóa công. Ví dụ: quốc phòng đảm bảo an toàn, giáo dục… Để xem xét khuyến nông có đầy đủ tính chất của hành hóa và dịch công cần tìm hiều về khái niệm hàng hóa dịch và dịch vụ công.
Hàng hóa và dịch vụ công là những loại hàng hóa và dịch vụ mà việc cá nhân này thụ hưởng do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó. Do vậy hàng hóa và dịch vụ công có hai thuộc tính: - Hàng hóa và dịch vụ công không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng; - Hàng hóa và dịch vụ công không có tính loại trừ. Chương trình khuyến nông là hàng hóa và dịch vụ do nhà nước cung cấp. Nhà nước triển khai các chương trình khuyến nông để thay đổi quan niệm, cách thức sản xuất nhằm thúc đẩy năng suất và phát triển kinh tế.
Chương trình khuyến nông cung cấp miễn phí để nông dân có thể tiếp cận kiến thức và kỹ năng mới dễ dàng tại trạm khuyến nông hay ngoài thực tế. Do vậy, chương trình khuyến nông có đầy đủ tính chất của hàng hóa và dịch vụ công. Theo kinh tế học, nguyên nhân suất hiện của hoạt động khuyến nông như là hàng hóa dịch vụ có ngoại tác lên thị trường sản xuất nông nghiệp. Ngoại tác của dịch vụ khuyến nông có tính tích cực.
Nhà nước đóng vai trò người bán cung cấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các chương trình khuyến nông đến người nông dân tiêu dùng dịch vụ này. Trong trao đổi này chỉ người tiêu dùng (nông dân) có lợi trực tiếp nhờ ứng dụng kỹ thuật mới với sản xuất. Người cung cấp (nhà nước) không thu lợi trực tiếp (dịch vụ trợ cấp) nên nhà nước chịu thiệt. Nhưng xét góc độ tổng thể, xã hội được lợi từ sản lượng gia tăng và ứng dụng kỹ thuật lan truyền từ nông dân này đến nông dân khác trong cộng đồng.
Do vậy, chi phí nhà nước bỏ ra cân xứng với lợi ích xã hội mang lại đồng thời gia tăng sản lượng. Cơ cấu dịch vụ công của Việt Nam Theo khái niệm hàng hóa và dịch vụ công, nhà nước cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ đều được gọi là hành hóa và dịch vụ công. Dịch vụ công của nhà nước thường được phân chia làm 3 cấp độ: hoạt động công vụ, hoạt động hành chính công, cung ứng dịch vụ công. Hoạt động hành chính công và hoạt động công vụ do nhà nước độc quyền đảm trách đảm trách.
Cung ứng dịch vụ công do nhà nước và các thành phần kinh tế khác tham gia. Cùng với quan điểm trên, TS.Lê Chi Mai có sự phân biệt cụ thể hơn qua sơ đồ sau: Hình 1. Cơ cấu dịch vụ công của Việt Nam Dịch vụ công Dịch vụ công cộng Dịch vụ HC công Dịch vụ Dịch vụ xã Dịch vụ Cấp giấy phép phát triển hội: công ích: kinh tế: Trường Cung cấp Cấp giấy chứng nhận, xác nhận Khuyến học; điện; nông, Bệnh viện; Nước; vệ Thu các khoản phí đóng góp khuyến N/c Khoa sinh MT; lâm, học; Xây dựng khuyến ngư … đường; … Giải quyết khiếu nại, tố cáo Nguồn: Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam (2003), p.27 Trong cơ cấu này, cơ quan hành chính cung ứng: giấy phép, công chứng. là dịch vụ độc quyền của nhà nước.
Dịch vụ công cộng do các đơn vị sự nghiệp có thu đảm trách. Dịch vụ công ích: vệ sinh môi trường, nước sạch, giao thông công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. do các doanh nghiệp hoạt động công ích cung ứng. Dịch vụ xã hội : y tế, giáo dục, văn hoá, khoa học, công nghệ.
do các tổ chức sự nghiệp cung ứng.