Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về giá trị hợp lý. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và các giải pháp vận dụng giá trị hợp lý tại các doanh nghiệp Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QU N VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QU N ĐẾN LUẬN VĂN Chương này trình bày một cách tổng quan về các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề c liên quan đến nội dung của luận văn. Với sự hạn chế về th i gian và kiến thức, tác giả cố gắng thu thập, nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ các nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã thực hiện về một số nội dung c liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn, qua đ xác định khe hở nghiên cứu làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung và mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Các nghiên cứu công bố ở nƣớc ngoài Trình bày BCTC theo chuẩn mực BCTC quốc tế IAS/IFRS nói chung hay kế toán GTHL nói riêng đã được vận dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Chính vì thế, đây là chủ đề được khá nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu. Trong số đ , phải k đến các nghiên cứu: [1] Bewley, Graham, Peng, 2013. Toward Understanding How Accounting Principles Become Generally Accepted: The Case of Fair Value Accounting Movement in China. In: Financial reporting and auditing as social and organizational practice Workshop 2.
- Nghiên cứu tìm hi u về quá trình vận dụng CMKT quốc tế cũng như chấp nhận kế toán GTHL ở Trung Quốc. Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống kết hợp với các phương pháp tổng hợp, so sánh về môi trư ng chính trị, xã hội và kinh tế trong 2 lần đưa GTHL vào vận dụng ở Trung Quốc, tác giả muốn chỉ ra lý do tại sao GTHL đã được chấp nhận ở Trung Quốc trong giai đoạn hai (2001- 2006) và nguyên nhân của sự thành công. - Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thành công của “cuộc cải cách” GTHL lần thứ 2 ở Trung Quốc là do yếu tố xã hội hơn là kinh tế. N là thành công của sự kết hợp ba bên (Bộ Tài chính Trung Quốc, IASB và Ngân hàng Thế giới) trên cơ sở tôn trọng và chia sẻ lợi ích lẫn nhau.
Sự kết hợp này đã nhận được sự ủng hộ từ các chuyên gia và tạo nên 1 phong trào kế toán GTHL ở Trung Quốc đưa n đến thành công. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 [2] Pawan Jain, 2013. Fair Value Accounting: Adoptability in Indian Corporate Financial Reporting Scenario. International Journal of Accounting, and Business Management (IJABM), Volume 1, Issue 1.
- Bài viết nghiên cứu về khả năng áp dụng GTHL ở Ấn Độ - một phần trong tiến trình hội tụ hoàn toàn của CMKT Ấn Độ (Ind AS) với IFRS. Tác giả sử dụng phương pháp so sánh giữa Ind AS với IFRS. - Tác giả đã trình bày sơ lược về lịch sử hình thành và phát tri n của GTHL ở Ấn Độ, cách tiếp cận của Ấn Độ trong việc hội tụ với IFRS n i chung và vận dụng kế toán GTHL n i riêng. Qua nghiên cứu tác giả đề xuất một số giải pháp vận dụng bao gồm: cải thiện môi trư ng pháp lý, đào tạo nguồn nhân lực hi u biết về GTHL, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về GTHL, thiết lập phương pháp đo lư ng rõ ràng.
[3] Phan Thi Phuoc Lan, 2013. The meaning and effect of not applying all IAS / IFRS, practical research in Vietnam. The Maastricht School of Management, Netherlands. - Bài nghiên cứu đã khám phá và miêu tả bối cảnh cụ th của Việt Nam dựa trên việc phân tích môi trư ng Xã hội, Chính trị, Kinh tế, Công nghệ và Pháp luật của đất nước dẫn đến việc lựa chọn không áp dụng toàn bộ IAS/IFRS.
Qua nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia là các nhà soạn thảo văn bản CMKT Việt Nam, tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu là xuất phát từ lý do xã hội, chính trị, kinh tế của đất nước. Trong đ , tác giả cho rằng nhân tố hệ thống pháp luật là không c ảnh hưởng vì độc lập với hệ thống thuế, tài chính, kế toán. Nhìn chung, nghiên cứu đã chỉ ra được những nguyên nhân căn bản vì sao Việt Nam chưa vận dụng đầy đủ IAS/IFRS tuy nhiên việc chấp nhận hay loại bỏ các nhân tố mới dựa vào định tính, một số đi m chưa thuyết phục cao. Adoption determinants of the International Accounting Standards IAS/IFRS by the developing countries.
Journal of Economics, Finance and Administrative Science, 18: 56-62. - Nghiên cứu của 2 tác giả đã chỉ ra các yếu tố quyết định đến việc vận dụng các CMKT quốc tế IAS/IFRS ở các quốc gia đang phát tri n. Tác giả đã thực nghiệm trên mẫu 74 quốc gia và vùng lãnh thổ ở 4 châu lục. Tác giả đưa ra 7 giả thuyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nghiên cứu và sau khi ki m định mô hình nghiên cứu kết quả chỉ ra các nhân tố: sự tăng trưởng kinh tế, trình độ giáo dục và hệ thống pháp luật c ảnh hưởng đáng k trong khi đ các nhân tố: môi trường văn hóa, hệ thống chính trị, thị trường vốn lại không ảnh hưởng nhiều.
- Đi m yếu của nghiên cứu là tác giả định lượng trên nguồn dữ liệu thứ cấp là chủ yếu, các thông tin này c th được cung cấp không minh bạch. Bên cạnh đ , do đặc thù hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mỗi quốc gia, mỗi khu vực khác nhau nên sử dụng chung mô hình nghiên cứu c th không phù hợp. [5] Benjamin, Niskkalan & Marathamuthu, 2012. Fair Value Accounting and the Global Financial Crisis: The Malaysian Experience.
- Bài báo nhằm nghiên cứu bản chất của việc vận dụng GTHL trong đo lư ng bất động sản đầu tư trong suốt giai đoạn khủng hoảng tài chính ở Malaysia (2007- 2008) của 11 công ty đầu tư bất động sản trên thị trư ng chứng khoán Malaysia đã nộp BCTC. Kết quả, trong năm 2008 (trong giai đoạn khủng hoảng tài chính) c 8/11 công ty ghi tăng GTHL khoản mục bất động sản đầu tư, 3 công ty không ghi nhận thay đổi. Trong năm 2009 (năm vẫn còn chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng) c 9/11 công ty vẫn ghi tăng GTHL của bất động sản đầu tư, 2 công ty không báo cáo bất kỳ sự thay đổi nào. Điều này là trái ngược với các công ty ở châu Âu, Mỹ, Singapore.
- Kết luận tác giả cho rằng vấn đề nằm ở chỗ c sự khác nhau về việc hi u và vận dụng GTHL theo vị trí địa lý, sự phát triển của nền kinh tế, định hướng, văn hóa. Và việc ghi nhận GTHL cần được làm sáng tỏ đối với các đối tượng sử dụng BCTC khác nhau do c sự khác biệt thậm chí là đối lập về lợi ích. - Bên cạnh đ bài báo cũng giới thiệu một số ít các CMKT Malaysia cho phép đo lư ng theo GTHL, cũng như đưa ra các tranh luận xung quanh GTHL và giá gốc. [6] Laux and Leuz, 2009.
The crisis of fair-value accounting: Making sense of the recent debate. Accounting, Organizations and Society, 34:826–834. - Nghiên cứu chỉ ra những tranh cãi chủ yếu về GTHL như: khi các dữ liệu thị trư ng không th thu thập, việc sử dụng các thông tin chủ quan phi thị trư ng c th làm cho GTHL bị xác định sai lệch hoặc không đúng. Và vì GTHL dựa trên các mô hình nên thiếu tính tin cậy; vấn đề ghi nhận của các tài sản trong th i kỳ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 khủng hoảng; nhà quản lý c th đối mặt với việc bị khởi kiện về GTHL cho dù n c th xác định phù hợp; GTHL không phù hợp và tiềm ẩn những sai lệch đối với những tài sản do công ty nắm giữ lâu dài.
- Kế toán GTHL làm gia tăng tính chất không ổn định và gây ảnh hưởng xấu đến thị trư ng. Xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2009, nhiều quan đi m cho rằng GTHL làm trầm trọng cuộc khủng hoảng bởi việc bắt buộc ghi giảm giá trị các tài sản “tốt” do sự giảm giá của thị trư ng. - Họ cũng chỉ ra những kh khăn do thông tin bất cân xứng, ngư i quản lý c thông tin tốt hơn nhân viên ki m toán và Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC). Do đ các cơ quan quản lý không biết khi nào cần và không cần đưa ra các phản ứng.
- Tác giả cũng cho rằng ưu đi m của GTHL là phản ánh điều kiện thị trư ng hiện tại, cung cấp thông tin không bị lỗi th i, tăng cư ng tính minh bạch và khuyến khích các nhà quản lý điều chỉnh hành vi thích hợp. Fair value accounting and its usefulness to financial statement users. The Department of Economics and Statistics “Cognetti deMartiis”, 27/13. - Nghiên cứu của tác giả chỉ ra lý do tại sao lại sử dụng GTHL, các khái niệm xung quanh GTHL, cơ sở hình thành cũng như cơ sở đo lư ng GTHL theo IFRS 13 và FAS 157.
- Tác giả đã tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm về tính hữu ích của GTHL cho công cụ tài chính, tài sản phi tài chính cũng như những tranh luận xung quanh GTHL hiện nay. - Kết luận, tác giả cho rằng giá gốc và GTHL không được xem là các đối thủ cạnh tranh vì chúng phục vụ cho các mục đích khác nhau. Giá gốc cung cấp thông tin về chi phí khoản đầu tư trong khi GTHL đo lư ng cái mà nhà quản lý mong đợi nhận lại từ khoản đầu tư, đánh giá hiệu quả quản lý. - Tác giả đề cho rằng cần cung cấp thông tin theo cả giá gốc và GTHL, và chỉ khi đ các nhà đầu tư mới được cung cấp thông tin đầy đủ và hữu ích.
Tác giả đề xuất nên đưa điều này ra thảo luận và ban hành tiêu chuẩn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. A Global Guide to Fair Value Measurement. - Nghiên cứu là một tài liệu tham khảo rất hữu ích cho ngư i làm kế toán và các bên liên quan trong việc tìm hi u về GTHL.
Nghiên cứu bao gồm 9 chương và phần phụ lục giải thích cho các câu hỏi và kết quả trong các cuộc thảo luận, tài liệu nghiên cứu gần như t m lược toàn bộ những khái niệm, hướng dẫn liên quan đến sử dụng GTHL theo CMKT Mỹ và CMKT quốc tế.