Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò xương sống trong nền kinh tế Thủ đô, chiếm tới 95% trong tổng số 157.121 doanh nghiệp đăng ký thành lập tại Hà Nội tính đến hết ngày 31/12/2014. Theo số liệu thống kê, khối doanh nghiệp này giải quyết việc làm cho 1.632.173 người lao động vào năm 2013, tương đương 76,85% tổng số lao động trong khu vực doanh nghiệp toàn thành phố. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của các DNNVV Hà Nội còn nhiều hạn chế khi có tới 85,19% lực lượng lao động là lao động phổ thông, cùng với khoảng 75% hệ thống máy móc, thiết bị đã hết khấu hao và lạc hậu từ 10 đến 20 năm so với mặt bằng chung của thế giới.

Trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề nghiên cứu cấp thiết đặt ra là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của khối DNNVV. Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong DNNVV, phân tích và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Hà Nội giai đoạn 2010–2014, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện đến năm 2020. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội với dữ liệu thực chứng thu thập trong giai đoạn 2010–2014. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước, cụ thể hóa các chính sách theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC, góp phần tối ưu hóa hiệu suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development - HRD) trong tổ chức kinh tế. Lý thuyết này tiếp cận phát triển nguồn nhân lực trên hai trục chính: phát triển theo chiều rộng thông qua quy mô tuyển dụng, gia tăng số lượng và chính sách thu hút; phát triển theo chiều sâu thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, quy hoạch, bố trí và sử dụng lao động hợp lý nhằm tối ưu hóa năng suất.

Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng khung tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ và khuyến nghị của Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank). Theo đó, doanh nghiệp được phân cấp thành siêu nhỏ (dưới 10 lao động, vốn từ 10 đến 20 tỷ đồng), nhỏ (từ 10 đến dưới 200 lao động, vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng tùy lĩnh vực) và vừa (từ 200 đến 300 lao động). Các khái niệm trọng tâm bao gồm: nguồn nhân lực doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực (cấu thành từ thể lực, trí lực, trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và năng lực thực thi), cùng môi trường thể chế hỗ trợ doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám Thống kê Hà Nội, báo cáo của Cục Thuế Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội và Tổng cục Thống kê giai đoạn 2010–2014. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi khảo sát trực tiếp 100 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng dựa trên cơ cấu ngành nghề thực tế: bán buôn và bán lẻ chiếm 23%, công nghiệp chế tạo chiếm 17%, công nghệ thông tin và truyền thông chiếm 16%, xây dựng chiếm 15%, vận tải kho bãi chiếm 7%, nông lâm thủy sản chiếm 5%, cùng các ngành dịch vụ khác. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho bức tranh kinh tế Thủ đô. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, so sánh đối chiếu định lượng và phương pháp chuyên gia. Việc lựa chọn các phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác thực trạng phân bổ nguồn vốn, quy mô lao động, đồng thời đánh giá khách quan mối tương quan giữa chính sách quản lý nhà nước và hiệu quả vận hành thực tế của doanh nghiệp trong giai đoạn 2010–2014, làm cơ sở dự báo đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội gia tăng nhanh chóng về số lượng nhưng cơ cấu quy mô vốn còn khiêm tốn. Tính đến hết năm 2014, Hà Nội có 150.251 DNNVV đăng ký hoạt động với tổng vốn đăng ký đạt 1.923 tỷ đồng, mức vốn bình quân đạt khoảng 8,1 tỷ đồng trên mỗi doanh nghiệp. Dù vậy, có tới 81% số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng và 92% doanh nghiệp sử dụng dưới 50 lao động, cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng nhóm doanh nghiệp quy mô vừa.

Thứ hai, khu vực DNNVV đóng vai trò cốt lõi trong giải quyết việc làm nhưng cơ cấu trình độ học vấn còn nhiều bất cập. Lao động trong khu vực DNNVV tăng từ 826.850 người năm 2010 lên 1.632.173 người năm 2013, nâng tỷ trọng đóng góp từ 62,85% lên 76,85% tổng lao động doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động phổ thông có trình độ trung học phổ thông trở xuống chiếm tới 85,19%; công nhân kỹ thuật chiếm 7,73%; trình độ trung cấp chuyên nghiệp chiếm 3,17%; trình độ cao đẳng, đại học chỉ đạt 3,83% và trình độ trên đại học chiếm 0,07%. So với khu vực doanh nghiệp nhà nước (14,55% đại học, 0,21% sau đại học) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI (8,27% đại học, 0,20% sau đại học), chất lượng chuyên môn kỹ thuật của DNNVV ở mức thấp nhất.

Thứ ba, năng lực quản trị nội bộ và khả năng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ còn rất hạn chế. Mặc dù tỷ lệ chủ doanh nghiệp có trình độ trên đại học tại Hà Nội đạt 6,0% (cao hơn mức bình quân 1,34% của cả nước), phần lớn các đơn vị vẫn vận hành theo phương thức kinh nghiệm gia đình, thiếu chiến lược kinh doanh bài bản. Kết quả khảo sát 100 doanh nghiệp chỉ ra rằng có tới 94% doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay ngân hàng (chỉ 30% doanh nghiệp tiếp cận được vốn tín dụng chính thức, 70% phải sử dụng vốn tự có hoặc vay ngoài với lãi suất cao từ 15% đến 18%), đồng thời 86% doanh nghiệp nhận định thủ tục vay vốn ở mức phiền hà và rất phiền hà.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chất lượng lao động thấp và tỷ lệ công nhân kỹ thuật chỉ đạt 7,73% xuất phát từ nguyên nhân các DNNVV gặp khó khăn lớn về nguồn lực tài chính. Do phải chịu áp lực chi phí ngắn hạn, doanh nghiệp không có đủ ngân sách dành cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn định kỳ. Điều này dẫn đến vòng lặp tiêu cực: công nghệ lạc hậu (75% thiết bị hết khấu hao) khiến hao phí nguyên nhiên vật liệu tăng gấp 1,5 lần so với thế giới, năng suất lao động giảm sút, từ đó doanh thu và chế độ đãi ngộ không đủ sức thu hút nhân tài chất lượng cao. Bên cạnh đó, việc 33% doanh nghiệp phải sử dụng nhà ở làm địa điểm kinh doanh và chỉ 0,8% doanh nghiệp tiếp cận được mặt bằng trong khu, cụm công nghiệp đã hạn chế không gian mở rộng quy mô đào tạo tại chỗ.

Dữ liệu tăng trưởng lao động qua các năm (tốc độ tăng 30% giai đoạn 2010–2012, 22% giai đoạn 2011–2012 và 7% giai đoạn 2012–2013) có thể được trình bày trực quan bằng biểu đồ đường kết hợp biểu đồ cột, giúp làm nổi bật xu hướng mở rộng quy mô việc làm. Đồng thời, bảng số liệu so sánh chéo cơ cấu trình độ giữa ba khu vực kinh tế (DNNVV, DNNN, FDI) là công cụ hữu hiệu để phân tích khoảng cách năng suất lao động. Khi so sánh với các địa phương khác, tỷ lệ DNNVV Hà Nội có nhà cung ứng chính là các doanh nghiệp lớn chỉ đạt 25,7%, thấp hơn đáng kể so với Thành phố Hồ Chí Minh (36,8%), Đồng Nai (60,0%) và Đà Nẵng (91,7%). Kết quả này chứng minh mối liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị của DNNVV Hà Nội còn rất lỏng lẻo, chủ yếu mang tính mua bán đơn lẻ thay vì tham gia vào mạng lưới sản xuất chuyên sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế thể chế và hỗ trợ tài chính từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Kế hoạch và Đầu tư cần đẩy mạnh thực thi Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC, thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng chuyên biệt dành cho DNNVV. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi từ mức 30% hiện nay lên 60% trong giai đoạn 2016–2020, tạo đòn bẩy tài chính để doanh nghiệp đổi mới công nghệ và tái đầu tư vào con người.

Thứ hai, chủ động tái cấu trúc ngân sách và chuẩn hóa công tác đào tạo tại doanh nghiệp. Các DNNVV cần trích lập tối thiểu 3% đến 5% tổng doanh thu hàng năm để phục vụ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và kỹ năng quản trị hiện đại. Doanh nghiệp cần phối hợp với các trường đại học, cao đẳng nghề tổ chức đào tạo theo đơn đặt hàng, phấn đấu giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ 85,19% xuống dưới 60% trước năm 2020.

Thứ ba, cải cách chính sách đãi ngộ, tiền lương và môi trường làm việc. Ban lãnh đạo doanh nghiệp cần xây dựng thang bảng lương minh bạch gắn liền với hiệu suất công việc (KPIs), bảo đảm thực hiện đầy đủ 100% chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động (tăng tỷ lệ bao phủ từ mức thực tế hiện tại lên trên 95%). Việc cải thiện điều kiện an toàn vệ sinh lao động và xây dựng lộ trình thăng tiến rõ ràng là giải pháp then chốt để giữ chân đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi.

Thứ tư, nâng cao vai trò kết nối chuỗi giá trị của các hiệp hội ngành nghề và trung tâm hỗ trợ. Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội cùng Trung tâm Hỗ trợ DNNVV cần chủ động tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối giao thương giữa DNNVV với các tập đoàn FDI và doanh nghiệp lớn. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ liên kết cung ứng từ mức 25,7% lên trên 50% vào năm 2020, tạo điều kiện cho nhân lực DNNVV tiếp cận quy trình quản trị và kỹ thuật sản xuất tiên tiến.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại thành phố Hà Nội: Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng về 150.251 doanh nghiệp và thực trạng 33% cơ sở thiếu mặt bằng kinh doanh, giúp các nhà hoạch định xây dựng cơ chế giao đất, quy hoạch cụm công nghiệp và điều chỉnh chính sách đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu xã hội.

Nhóm chủ doanh nghiệp và nhà quản trị DNNVV: Nghiên cứu mang lại khung tham chiếu quản trị nhân sự thực tế, hướng dẫn cách thức phân bổ ngân sách 3% đến 5% doanh thu cho đào tạo và giải pháp nâng cấp năng lực cho 85,19% lao động phổ thông nhằm bứt phá năng suất.

Nhóm các tổ chức hiệp hội, trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp: Dữ liệu về 94% doanh nghiệp gặp khó khăn vay vốn và mức độ liên kết chuỗi cung ứng chỉ đạt 25,7% là căn cứ quan trọng để thiết kế các chương trình kết nối đối tác, hỗ trợ bảo lãnh tín dụng và mở các lớp bồi dưỡng khởi sự kinh doanh.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa số liệu thống kê vĩ mô và khảo sát thực địa 100 doanh nghiệp, cung cấp hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực bài bản.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất của nguồn nhân lực DNNVV Hà Nội giai đoạn 2010–2014 là gì?

Điểm nghẽn lớn nhất là cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật rất thấp khi có tới 85,19% là lao động phổ thông và chỉ 3,83% có bằng đại học, cao đẳng. Thực trạng này bắt nguồn từ việc 81% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, không đủ khả năng tài chính để tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu.

Khó khăn về nguồn vốn tác động thế nào đến việc phát triển nhân lực doanh nghiệp?

Khoảng 70% doanh nghiệp phải dựa vào vốn tự có hoặc vay ngoài với lãi suất cao từ 15% đến 18%, trong khi 94% doanh nghiệp phản ánh khó tiếp cận vốn ngân hàng. Thiếu hụt vốn buộc các đơn vị phải cắt giảm chi phí đào tạo và chế độ phúc lợi, dẫn đến việc không thu hút và giữ chân được lao động có tay nghề cao.

Mức độ liên kết sản xuất của DNNVV Hà Nội với các doanh nghiệp lớn đạt kết quả ra sao?

Tỷ lệ DNNVV Hà Nội có nhà cung ứng chính là các doanh nghiệp lớn chỉ đạt gần 26% (chính xác là 25,7%), thấp hơn nhiều so với Đà Nẵng (91,7%) và Đồng Nai (60,0%). Điều này cho thấy các DNNVV tại Thủ đô chưa tham gia sâu vào các chuỗi giá trị hoàn chỉnh mà chủ yếu hợp tác ở quy mô nhỏ lẻ.

Chính sách nhà nước đã hỗ trợ hoạt động đào tạo nguồn nhân lực DNNVV như thế nào?

Thông qua Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC, các chương trình hỗ trợ đào tạo được triển khai theo nguyên tắc xã hội hóa. Trung tâm Hỗ trợ DNNVV Hà Nội đã phối hợp với các tổ chức quốc tế tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn về khởi sự kinh doanh và quản trị cho cán bộ doanh nghiệp.

Luận văn khuyến nghị mức ngân sách nào cho công tác đào tạo nhân sự nội bộ?

Luận văn đề xuất các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần trích lập từ 3% đến 5% tổng doanh thu hàng năm để đầu tư cho công tác đào tạo kỹ năng nghề và chuyển giao kỹ thuật. Đây là mức chi phí cần thiết để từng bước hiện đại hóa công nghệ và giảm mức hao phí nguyên vật liệu đang cao gấp 1,5 lần thế giới.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực theo chiều rộng và chiều sâu, xác lập bộ tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực áp dụng cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Phân tích thực trạng 150.251 DNNVV tại Hà Nội giai đoạn 2010–2014, khẳng định vai trò tạo việc làm cho 1.632.173 lao động, chiếm 76,85% tổng số lao động doanh nghiệp toàn thành phố.
  • Chỉ rõ những hạn chế cốt lõi: 85,19% lao động có trình độ phổ thông, 81% doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng, 75% máy móc thiết bị lạc hậu từ 10 đến 20 năm và 94% doanh nghiệp gặp khó khăn khi vay vốn.
  • Đánh giá hiệu quả triển khai chính sách hỗ trợ của Nhà nước theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, đồng thời chỉ ra mức độ liên kết chuỗi giá trị của DNNVV Hà Nội chỉ đạt 25,7%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ giữa Nhà nước, chính quyền Hà Nội và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong định hướng phát triển đến năm 2020.

Luận văn đã đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng và bộ giải pháp có tính ứng dụng cao cho công tác quản lý kinh tế tại Hà Nội. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà quản trị doanh nghiệp hãy tham khảo toàn văn công trình để khai thác chi tiết hệ thống bảng biểu, phân tích chuyên sâu dữ liệu khảo sát 100 doanh nghiệp và hoàn thiện chiến lược phát triển nhân lực cho tổ chức của mình.