phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, 10 tiết 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm và phân loại khu công nghiệp a) Khái niệm khu công nghiệp Khu công nghiệp (KCN) đƣợc hình thành và phát triển ở các nƣớc tƣ bản phát triển vào những năm cuối của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Năm 1896, xuất hiện KCN đầu tiên ở Traffort Park thành phố Manchester (Anh).
Sau đó, KCN lần lƣợt đƣợc thành lập ở các nƣớc khác nhƣ Mỹ (1899), Italia (1904); và kể từ những năm 50 thế kỷ XX thì KCN thực sự bùng nổ, trở thành phổ biến ở các nƣớc. Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo số liệu của Hội đồng nghiên cứu phát triển Quốc tế (IDRC), đến năm 2005 đã có 12.600 KCN nằm rải rác ở 90 quốc gia. Trong đó: Hoa Kỳ là 8800, Canada: 1.200, Đức: 300, Anh 200 và Hà Lan 130, Malaixia có 166 KCN, Hàn Quốc 147, Indonesia 117 và Nhật Bản 95.
[20] Mặc dù KCN đã phát triển từ rất lâu, nhƣng cho tới nay, vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về KCN. Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc UNIDO (1990): KCN là khu vực tƣơng đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tƣ vào các ngành công nghiệp hƣớng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tƣ mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nƣớc chủ nhà.48] Ở Thái Lan và Philippin, KCN đƣợc quan niệm nhƣ một thành phố công nghiệp và thực tế nó là một cộng đồng tự túc và độc lập. Ngoài việc cung cấp kết cấu hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải, KCN cũng bao gồm khu thƣơng mại, dịch vụ ngân hàng, trƣờng học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, khu nhà ở cho công nhân… Các KCN ở Thái Lan và Philippin thƣờng tồn tại các hình thức: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu sản xuất hàng xuất khẩu và khu thƣơng mại dịch vụ. 10 Tại Việt Nam, các KCN trƣớc đây thƣờng đƣợc hiểu là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng chủ trƣơng “Quy hoạch các vùng, trƣớc hết là các địa bàn trọng điểm, các KCX, KKT đặc biệt, KCN tập trung”. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng năm 1996 xác định rõ thêm: “Cần hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả KCN và KCNC) tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới. Phát triển đẩy mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đƣa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cƣ”.
[24] Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế cách hiểu về KCN cũng có những sự thay đổi. Chẳng hạn theo Nghị định 36/NĐ – CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ ban hành quy chế KCN, KCX, KCNC, khái niệm KCN đƣợc nêu ra nhƣ sau: KCN là khu tập trung các DN chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện các DV cho sản xuất CN, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; nhƣng tại Nghị định số 29/2008/NĐ – CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ đã không đề cập đến vấn đề dân cƣ trong KCN. Cụ thể, Nghị đinh 29/2008/NĐ – CP quy định KCN là: “Khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý rõ ràng”. Theo TS Nguyễn Đình Quản, KCN là một khu có ranh giới địa lý xác định, có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, về chính sách, cơ chế ƣu đãi và chế độ quản lý riêng dành cho sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh công nghiệp và thực hiện các dịch vụ công nghiệp.
Theo Luật Đầu tƣ năm 2005, KCN là khu chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện các DV cho sản xuất CN, có ranh giới địa lý xác định. [37] Các quan niệm trên tuy diễn đạt khác nhau, nhƣng đều thống nhất ở một số điểm chủ yếu: Thứ nhất, KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội đồng bộ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh 11 doanh và đời sống của ngƣời lao động, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp công nghệ cao. Về thực chất, đây là khu hành chính kinh tế đặc biệt nhƣ KCN Batam (Indonesia), công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nƣớc Tây Âu, khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất ở Việt Nam.
Thứ hai, KCN là lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống. Mô hình này đƣợc xây dựng ở một số nƣớc nhƣ Malaixia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam. Từ đó, có thể khái quát lại: KCN là một lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có những điều hiện tƣơng ứng với phát triển công nghiệp về tự nhiên, cơ sở hạ tầng, quản lý nhà nƣớc, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ có liên quan đến hoạt động công nghiệp b) Phân loại khu công nghiệp: Tuỳ theo góc độ tiếp cận, KCN có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: - Theo tính chất ngành nghề, KCN đƣợc chia thành các loại sau: KCN chuyên ngành, KCN đa ngành, KCN sinh thái, KCN đô thị, KCN đô thị - công nghệ cao. KCN chuyên ngành: là KCN đƣợc hình thành từ các xí nghiệp công nghiệp cùng một loại ngành hoặc một ít ngành CN khác nhau nhƣng cùng sản xuất ra một số loại sản phẩm.
Ví dụ nhƣ khu gang thép Thái Nguyên, Hóa chất Việt Trì, Lọc dầu Dung Quất. KCN đa ngành: là KCN bao gồm nhiều xí nghiệp thuôc nhiều ngành công nghiệp khác nhau. KCN đa ngành cho phép thoả mãn đƣợc yêu cầu về lãnh thổ cho sản xuất công nghiệp, tiết kiệm đầu tƣ hạ tầng, song rất dễ gây ra tác động xấu giữa các xí nghiệp khác nhau. KCN đô thị (công viên công nghiệp): là mô hình mang tính cộng sinh giữa công nghiệp và đô thị.
Các KCN phát triển hài hòa trong không gian đô thị với hệ thống dịch vụ hoàn chỉnh, hỗ trợ nhau cùng phát triển trong môi trƣờng sạch và bền vững. 12 Khu đô thị - công nghệ cao (còn gọi là công viên khoa học): là mô hình mang tính chất cộng sinh giữa đô thị, các trung tâm nghiên cứu và đào tạo với các dự án công nghệ cao. Đó là vƣờn ƣơm khoa học, ứng dụng triển khai các công nghệ mới, nơi đào tạo nguồn nhân lức cao và các dịch liên quan trong môi trƣờng đô thị sinh thái. KCN sinh thái: là mô hình mang tính cộng sinh công nghiệp.
Các ngành công nghiệp đƣợc lựa chọn sao cho các nhà máy có một liên hệ với nhau, hỗ trợ và tƣơng tác với nhau tạo nên môi trƣờng sạch và bền vững. Với mô hình này thì phế liệu của nhà máy sẽ là nguyên liệu, vật tƣ của nhà máy kia. - Dựa vào đặc điểm của KCN, ngƣời ta chia KCN thành: KCN tập trung: Là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp, có thể là đa ngành, chuyên ngành; đƣợc xây dựng trên một vùng có thuận lợi về mặt địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, có cơ sở hạ tầng tốt. KCN chế xuất: là một dạng đặc biệt của KCN (còn gọi là KCX).
Tại đó, chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và các loại hoạt động xuất khẩu. Trong KCX, doanh nghiệp đƣợc tạo điều kiện thƣơng mại và hoạt động trong môi trƣờng thông thoáng. KCX là một dạng đặc biệt của KCN, nhƣng giữa KCX và KCN có sự khác nhau nhất định, xuất phát từ sự khác nhau về mục đích, đối tƣợng tham gia hay mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế. Đối với KCN thƣờng đƣợc thành lập ở những vùng mà kinh tế chƣa phát triển, nguồn lao động dƣ thừa nhƣng có một số yếu tố thuận lợi nhƣ tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý … KCN đƣợc nhận một sự ƣu tiên nhất định từ phía chính phủ và chính quyền địa phƣơng với một vai trò nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế vùng.
KCN bao gồm các doanh nghiệp trong nƣớc và doanh nghiệp nƣớc ngoài. Nhƣ vậy, so với KCN thì KCX cũng đƣợc xác định là KCN nhƣng tập trung những doanh nghiệp chuyên sản xuất chế biến các hàng xuất khẩu, đƣợc sự ƣu tiên đặc biệt của Chính phủ. KCX có vai trò then chốt trong việc chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở. Khu công nghệ cao: là KCN trong đó tập trung các doanh nghiệp có công 13 nghệ kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan.
Cụm công nghiệp: là tên gọi chung cho các cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thực chất là KCN tập trung nhƣng có quy mô nhỏ, do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập (hoặc phân cấp quyết định thành lập) theo quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn để bố trí các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống trong diện di dời khỏi nội thành, nội thị hoặc các khu dân cƣ tập trung, và thu hút các dự án đầu tƣ với quy mô vừa và nhỏ. - Theo đặc điểm và cấp quản lý: KCN gồm 3 loại: (1) KCN do chính phủ quyết định thành lập: đó là các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao; (2) KCN do UBND tỉnh, thành phố quyết định thành lập: đó là các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; (3) KCN do UBND huyện, thị quyết định thành lập.